
Les oubliés d’Indochine du Camp de Sainte-Livrade. Nguồn:
Michel Bui
Sau Hiệp định Genève ký kết ngày 20/7/1954, những đơn vị
quân đội Pháp ở Bắc Việt đã được rút vào Sài Gòn. Nhưng cho mãi đến tháng tư,
năm 1956, quân đội Pháp mới cuốn cờ rút hết khỏi Sài Gòn.
Trong đám lính Pháp hồi hương có khoảng 30.000 binh sĩ chính
quy.
Những doanh trại bỏ hoang này ở tình trạng tồi tàn, cửa siêu
vẹo, tường vôi tróc sơn, mối mọt, ẩm mốc. Cửa kính cái còn cái mất được thay thế
bằng những miếng nhựa. Cống rãnh hư hỏng lầy lội. Chung quanh có những hàng rào
kẽm gai, dấu tích của doanh trại nhà binh đế lại. Cỏ mọc rậm rạp khắp nơi cần
phải dọn dẹp.
Gạch lát sàn nhà bong ra để trơ nền đất ẩm..Trần nhà bằng
cát tông và có khóang amiang (abestos) ở dưới mái nhà. Nhưng quan trọng hơn cả
là hệ thống cống rãnh hư hỏng. Người ta còn đọc được một phúc trình của bác sĩ
Yann Daoulas trông coi trại vào năm 1961 như sau: “Plus d’un millier
d’individus croupissent dans la boue, les immondices” (Hơn một ngàn con người ở
chen chúc nhau trong bùn lầy và rác rưởi).
Đó là trường hợp anh Patrick Fernand đã từng sinh ra trong
khu trại binh này và nay anh là chủ tịch Hiệp hội những kẻ thường trú và bạn của
Trung tâm tiếp đón những người Pháp gốc Đông Dương. (ARAC). Và anh chỉ cho
chúng tôi căn nhà mà bố mẹ anh cũng như em của anh hiện còn đang ở đó. Trong
căn nhà này, lò sưởi bằng củi cháy ngùn ngụt để chống cái lạnh từ bên ngoài lùa
vào. Các căn phòng chật hẹp được ngăn bằng những tấm vách tạm bợ. Trên tưởng,
có treo một bức hình một người phụ nữ Á Đông xinh đẹp. Anh Patrick Fernand chỉ
tay lên bức hình nói: Mẹ tôi đấy. Bà để răng đen theo cách phụ nữ Á Đông xưa.
Vậy mà câu chuyện xưa trải qua nay đã 58 năm trôi qua. Lúc đầu,
mỗi gia đình được cho ở với một diện tích ba bốn phòng nhỏ trang bị sơ sài, một
vài đồ dùng trong bếp, khăn trải giường và mỗi người được phát hai chăn. Những
người này không phải trả tiền thuê nhà. Nhưng họ sẽ bị đuổi ra khỏi doanh trại
nếu có dấu hiệu họ giàu có như có xe hơi, có TV, máy giặt hay tủ lạnh. Theo quy
định của trại, có những thứ trên thì không thích hợp ở trong những căn nhà xã hội
do nhà nước phải trả chi phí.
Quản lý trại có một giám đốc trại xuất thân từ thời thuộc địa,
một thư ký, bốn nhân viên bảo trì, một bác sĩ và hai trợ tá xã hội.
Ở đây cũng có mở một trường học vào ngày 8-10-1956 và tiếp
đón 356 học sinh trong 10 lớp. Francois Boccheciampe còn nhớ lại: “Bỗng chốc,
phải học nói tiếng Pháp mà thoạt đầu không hiểu gì. Không có chọn lựa nào khác.
Nhưng cũng là cách tốt nhất để chúng tôi có thể hội nhập vào xã hội.”
Ngoài đồng ruộng, còn có những người phụ nữ đội nón
Cuộc sống chung đụng giữa 1200 người ngoại quốc trong một
khu làng có 3700 dân cư ngụ lúc đầu không dễ dàng gì. Nhưng rồi, các sổ hộ tịch
cho thấy đã có nhiều đám cưới giữa đám người Đông Dương này với dân vùng
Livradais. Các cuộc hôn nhân dị chủng này chứng tỏ sự hội nhập thật có kết quả
nhanh chóng. Trẻ con trong khu doanh trại cũng có trình độ học vấn như trẻ con
trong làng càng đẩy nhanh tiến trình hội nhập.
Nhưng dù có thiện chí mau chóng hội nhập, những người Đông
Dương này cũng không có lý do gì phủ nhận cái văn hóa của họ. Từ khi đến đây, ở
một góc nhỏ địa lý vùng Tây Nam nước Pháp tỏa ra một mùi hương thơm Á Châu.
Trong các căn nhà ở doanh trại cũ, người ta cũng thấy treo một tấm gương với
nhiều mảnh nhỏ ghép lại treo lủng lẳng trước mỗi cửa nhà mà theo sự tin tưởng của
mấy người này là để xua đuổi tà ma.
Trước cửa mỗi nhà thường trồng mấy luống rau muống, rau bạc
hà, mấy luống hành. Theo lời kể của Patrick Fernand, những người làm ruộng còn
trồng những rau trái đặc sản Á Đông để đem bán cho hai cửa tiệm Á Đông trong trại.
Và mọi chuyện diễn ra như thế không có một biến chuyển lớn
nào trong trung tâm qua 8 đời chính phủ liên tiếp mà không một ai có trách nhiệm
quan tâm đến số phận những người dân Đông Dương tại Saint-Livrade. Và cho đến
những năm cuối 1970, trong trại hầu như không có gì đổi khác như hồi 1956.
Năm 1981, chính quyền thị xã mua lại các lô đất, nhưng do
thiếu phương tiện nên chỉ có thể sửa chữa khẩn cấp để chống lại sự hư nát của
các nhà doanh trại..
Anh Patrick Fernand giải thích: Các bậc cha mẹ của chúng tôi
bỏ lại tất cả của cải để sang đây. Và họ đã không đòi hỏi cũng như than phiền bất
cứ điều gì. Họ bắt tay vào làm việc, đàn ông thì làm trong các xưởng đóng đồ hộp
trong vùng, hoặc làm thợ đóng giầy ngay trong trại. Phần phụ nữ đi làm công việc
hái lượm tùy theo mùa như đi hái mận, hái dâu và nhất là đậu ha ri cô ve. Trong
các trang trại, người ta quen với hình ảnh đội nón làm việc tiêu biểu cho giới
nhà nông trên các đồng ruộng. Và người dân địa phương hẳn nhiên là thích thú với
tiền nhân công rẻ, lại dễ bảo, trả tiền mặt chẳng thuế má gì.
Với thời gian
Với thời gian, các người lớn tuổi chết dần mòn. Giới trẻ mới
lớn lên cũng ra đi lập nghiệp nơi khác. Saint-Livrade chìm vào sự quên lãng.
Năm 2005, có một dự án do cơ quan quốc gia tái thiết đô thị (ANRY): Tái xây dựng
lại khoảng 100 đơn vị gia cư để dành cho khoảng 60 người cuối cùng còn sót lại.
Hầu hết là phụ nữ. Nhưng khi mà những chiếc xe ủi đất chuẩn bị tiến hành việc
san bằng các căn nhà cũ hư hỏng, thị xã bất ngờ phải đối đầu với một vấn đề
ngoài mong đợi: Các “má” gọi theo cách thân thương các người phụ nữ thế hệ ban
đầu lại không muốn rời những căn nhà cũ kỹ xưa kia. Theo thị trưởng Claire
Pasut, chỉ cần dọn ra khỏi căn nhà cũ và dọn vào căn nhà mới cách khoảng 20 mét
để sống trong những căn nhà mới đủ tiện nghi, nhưng với các “má” thì đó là một
cuộc bứng gốc rễ một lần nữa. Mà ngay cả những trẻ con từng sống ở Cafi, mặc dầu
đã bỏ ra đi làm ăn ở nơi khác, chúng cũng từ chối không chấp nhận việc san bằng
nơi đây với đầy những kỷ niệm. Thị trưởng cho rằng: “việc giữ lại những căn
chung cư này là điều không thể, các căn chung cư đã trở thành quá nguy hiểm.”
Các sự kiện xảy ra sau đó cho thấy ý kiến của ông thị trưởng
là có lý. Năm 2005, ngày lễ Saint-Sylvestre, Liliane Andréas, 87 tuổi, đã bị chết
cháy trong căn hộ do chảo dầu chiên bốc cháy. Số người chết có thể nhiều hơn thế
nhiều nếu những người hàng xóm của bà có mặt tại nhà bữa đó.
Chính quyền địa phương quyết định tiến hành việc dọn các người
còn lại sang các căn hộ mới, nhưng không quên bảo tồn những dấu tích của doanh
trại cũ. Để thực hiện được điều này, họ đã đề cử một ủy ban khoa học do
Martine-Dalas, chuyên viên bảo tồn các di sản quốc gia cầm đầu, quy tụ các nhà
sử học, các nhà xã hội học và các nhà thiết kế đô thị. Sau khi tham khảo thêm
Hiệp hội như ARAC và CEP (Coordination des Eurasiens de Paris) quy tụ những người
đã từng sống ở CAFI. Họ cũng tuyển dụng một chuyên viên về văn khố để thu tập
các tài liệu ký ức về CAFI, chẳng hạn các tài liệu về hành chánh, các hình ảnh
cá nhân của các người đã từng sống ở đây và các chứng nhân cũ. Bốn căn hộ doanh
trại cũng như nhà thờ và chùa cũng đã được lưu giữ lại.
Hằng năm, người ta vẫn tiếp tục tổ chức ngày tết cổ truyền tại Sainte-Livrade và múa lân trên các phố cũ của doanh trại dành cho người Đông Dương trước đây.
Que Huong/Terre Natale, Extraits : documentaire 26 minutes
sur les rapatriés d’Indochine vivant dans le camp de St-Livrade sur lot,
Co-realisé avec Delphine Bole/Emmanuel Dejoux en 2004, 3Is production
Le CAFI : Les oubliés d’Indochine du Camp de Sainte-Livrade
Published on Jun 17, 2014, La Roseraie des Cultures – 7ème
édition – Exposition Nguồn: Lược dịch bài Les oubliés de Sainte-Livrade, của
Cyril Guinet trong tạp chí GéoHistoire, số tháng ba-tư năm 2014, trang 112-115.
Đọc thêm: Le site des Rapatriés français d’indochine.
Tác Giả:Nguyễn Văn Lục






