Trang

21/04/2026

Thói quen "rởm đời" của các thiên tài trong lịch sử

Albert Einstein khỏa thân đi lại trong nhà, Nikola Tesla lau thìa 18 lần mới dùng bữa, Charles Dickens chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày... là những thói quen "quái lạ" của các thiên tài.

13 thiên tài có những thói quen lạ đời

•       1. Tiểu thuyết gia Charles Dickens - chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày

•       2. Nhà sáng chế Thomas Edison - ngủ nhiều giấc mỗi ngày

•       3. Nhà phát minh Nikola Tesla - lau thìa với 18 chiếc khăn tay mới ăn

•       4. Bác sĩ Sigmund Freud - kết bạn với "nàng tiên nâu"

•       5. Nhà văn Honore de Balzac - uống 50 cốc cà phê mỗi ngày

•       6. Tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu - ý tưởng xuất hiện khi não thiếu dưỡng khí

•       7. Nhà toán học Pythagoras ghét đậu

•       8. Albert Einstein khỏa thân đi lại trong nhà

•       9. Giáo sư đãng trí Werner Heisenberg

•       10. Oliver Heaviside thích sơn móng tay màu hồng

•       11. Nhà vật lý với thú vui "bẻ khóa" Richard Feynman

•       12. Stephen King khắt khe về ngữ pháp

•       13. Agatha Christie không viết truyện trên bàn giấy

Ít ai ngờ rằng, nhiều nhà văn, nhà chính trị gia, nghiên cứu khoa học lại có một số thói quen kỳ lạ giúp họ nảy sinh nhiều ý tưởng sáng giá. Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến nhà văn Mỹ - Jack Kerouac phải tìm đến men rượu để “giải phóng tâm hồn”, tạo nguồn cảm hứng văn chương hay nhà thơ Thomas Stearns Eliot còn có thói quen bôi phấn lên mặt và tô son màu xanh lá cây; Friedrich von Schiller tìm ý thơ từ mùi táo thối.

Câu hỏi nhiều người thắc mắc là những thói quen kỳ lạ này tạo nên các thiên tài, hay chính cái “tài” đã tạo nên cái “tật” khác thường ở những con người đó. Cùng điểm lại một vài thói quen quái gở của các thiên tài qua bài viết dưới đây.

1.     Tiểu thuyết gia Charles Dickens - chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày

Được mệnh danh là một trong những cây bút vĩ đại nhất thời nữ hoàng Victoria, tiểu thuyết gia người Anh - Charles Dickens (1812 - 1870) sở hữu không ít những thói quen kỳ lạ. Một nhân viên tiết lộ rằng, Charles không thể chịu được việc tóc tai “mất trật tự”, chính vì vậy ông luôn phải để một chiếc lược ngay gần và chải đầu hàng trăm lần mỗi ngày.


Bên cạnh đó, ông còn có thói quen đi đi lại lại trong khi sáng tác và đọc cho thư ký chép lại. Sau đó, hai người còn phải nghiền ngẫm từng câu nhiều lần, thay từ cho phù hợp và đổi thứ tự các từ trong câu trước khi bắt tay vào viết tiếp.

Các chuyên gia nghiên cứu đời sống và công việc của Dickens cho rằng trường hợp của ông là biểu hiện nhẹ của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế, nặng hơn còn là chứng động kinh.

2.     Nhà sáng chế Thomas Edison - ngủ nhiều giấc mỗi ngày

Trước khi trở thành các cộng sự nghiên cứu của Thomas Edison (1847 - 1932), họ đã phải trải qua một vòng phỏng vấn gắt gao, đó là ăn một bát súp dưới dự quan sát của nhà sáng chế tài năng này. Ông sẽ theo dõi xem họ có cho thêm muối vào súp trước khi ăn hay không.

Edison sẽ lập tức loại ngay những người cho muối dù chưa nếm thử tí nào. Theo ông, bài kiểm tra này nhằm loại bỏ những thí sinh mới bắt đầu nhưng đã đưa ra quá nhiều giả thuyết.

Edison còn cố gắng giảm thiểu những nhu cầu thiết yếu hết sức có thể, ví dụ như việc ngủ. Ông chia giấc ngủ của mình ra thành nhiều lần ngủ ngắn để có thêm thời gian tỉnh táo làm việc.

Khác với người bình thường ngủ từ 6-8h liên tục, ông lại chia thành nhiều giấc ngủ ngắn trong ngày

Chu kỳ ngủ chia làm nhiều giai đoạn (polyphasic sleep) là phương pháp dành cho những người muốn có thêm thời gian thức để làm những công việc khác, nhờ vậy sẽ tăng được năng suất công việc. Ngoài Thomas Edison, thiên tài Leonardo Da Vinci cũng áp dụng phương pháp ngủ này.

3.     Nhà phát minh Nikola Tesla - lau thìa với 18 chiếc khăn tay mới ăn

Nikola Tesla (1856 - 1943) là cha đẻ của hơn 300 phát minh như nam châm điện, radio, động cơ không đồng bộ… Tesla thường bắt đầu làm việc vào lúc 3h sáng và tiếp tục cho tới 11h đêm.

Thói quen này đã khiến ông bị suy nhược ở độ tuổi 25. Tuy nhiên, ông nhanh chóng phục hồi và tiếp tục chế độ sinh hoạt này cho tới khi về già, làm việc suốt 38 năm không ngừng nghỉ.

 Bên cạnh đó ông còn sống độc thân và làm bạn với chim bồ câu. Telsa còn có những nỗi sợ thầm kín, đó là phụ nữ thừa cân và các loại trang sức (đặc biệt là ngọc trai).

Ông sợ những phụ nữ quá cân.

Hơn thế, ông còn không dám bắt tay vì sợ vi khuẩn. Mỗi khi dùng bữa, nhà phát minh này phải lau sạch dao, dĩa và thìa với đúng 18 chiếc khăn tay làm từ vải lanh rồi mới yên tâm thưởng thức bữa ăn của mình.

4.     Bác sĩ Sigmund Freud - kết bạn với "nàng tiên nâu"

Bác sĩ tâm lý và thần kinh người Áo - Sigmund Freud (1856 - 1939) đã mang đến những hiểu biết sâu sắc về tiềm thức con người. Thông qua đó, ông cũng giúp các nhà tâm lý học có được cách thức tiếp cận bệnh nhân một cách dễ dàng hơn. Nhưng ít ai biết rằng, tật xấu của con người tưởng như hoàn hảo này chính là nicotine và cocaine.

Ông bắt đầu nghiện các chất kích thích này từ rất sớm và hút liên tục. Người bạn thân và cũng là bác sĩ của Freud đã cảnh báo ông rằng, việc hút xì gà hàng ngày có thể gây ra chứng rối loạn nhịp tim hết sức nguy hiểm.

Freud đã cố cai nghiện nhưng lại sớm rơi vào tình trạng trầm cảm. Ông đã từng chia sẻ: “Ngay sau khi bỏ thuốc, tim tôi thậm chí còn tệ hơn hồi dùng, tâm trạng thì không lúc nào được yên vì những hình ảnh chết chóc, tiễn biệt cứ lặp đi lặp lại”.

Cuối cùng, Freud lại phải trở về với “nàng tiên nâu” và đã từng hút một liều lượng lớn cocaine. Ông thậm chí phải trải qua 33 cuộc phẫu thuật miệng và hàm để loại bỏ tế bào ung thư nhưng vẫn dành những lời ca ngợi tốt đẹp cho thứ “vật chất kỳ diệu” này.

5.     Nhà văn Honore de Balzac - uống 50 cốc cà phê mỗi ngày

Nhà văn hiện thực Pháp - Honore de Balzac (1799 – 1850) có niềm đam mê với cà phê lớn tới mức một ngày ông có thể uống tới 50 cốc và hiếm khi chợp mắt trong quá trình sáng tác bộ tiểu thuyết “Tấn trò đời”.

Thậm chí ông còn dành một bài báo để ca ngợi “vẻ đẹp” của cà phê bằng thứ văn xuôi hoa mỹ và đầy chất thơ: “Thứ cà phê này rót vào dạ dày bạn và ngay lập tức tạo nên một chấn động. Các ý tưởng bắt đầu hành quân như tiểu đoàn trong một trận chiến”.

Honore de Balzac gọi cà phê là “thứ sức mạnh lớn lao trong cuộc đời”, nhờ có thức uống này mà ông có thể sóng sót với lịch làm việc “chết người”: đi ngủ lúc 6h tối, dậy lúc 1h và làm việc đến 8h sáng, sau đó chợp mắt một lúc trước khi tiếp tục viết 7 tiếng.

Ông uống rất nhiều để duy trì tốc độ công việc và thậm chí còn ăn bột cà phê trong khi dạ dày đang rỗng. Kết quả là Honore de Balzac đã viết được 85 cuốn tiểu thuyết trong vòng 20 năm và qua đời ở độ tuổi 50.

 Nhiều người suy đoán cái chết của ông là do lao lực và uống quá nhiều cà phê, trong khi có những giả thuyết cho rằng ông qua đời vì bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.

6.     Tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu - ý tưởng xuất hiện khi não thiếu dưỡng khí

Trong 74 năm cuộc đời của mình, tiến sĩ Yoshiro Nakamatsu đã sở hữu 3.300 bằng sáng chế, nổi tiếng nhất trong số đó là đĩa mềm. Rất nhiều sản phẩm của Nakamatsu đã được khai sinh trong hoàn cảnh ông suýt chết đuối. Nhà sáng chế lỗi lạc này tin vào lợi ích của việc thiếu dưỡng khí khi con người ở dưới nước.

Ông cho biết: “Để não thiếu dưỡng khí, bạn cần phải lặn thật sâu và khoảng 1,5 giây trước khi chết, tôi có thể hình dung ra một phát minh mới”. Sau đó ông viết ý tưởng này vào giấy chống thấm nước rồi bơi lên.

Thêm một chìa khóa dẫn đến thành công của Nakamatsu là lên ý tưởng trong một căn phòng lát đầy vàng 24kara. Theo ông, lớp vàng này có thể ngăn được sóng vô tuyến và radio “có hại cho quá trình sáng tạo”.

7.     Nhà toán học Pythagoras ghét đậu

Nhà toán học Pythagoras. (Ảnh: Prezi.com)

Được mệnh danh "cha đẻ của ăn chay", nhà toán học Hy Lạp Pythagoras hoàn toàn không ăn thịt, chỉ ăn rau. Tuy nhiên, thiên tài này lại không có tình yêu với các loài cây họ đậu. Ông từ chối ăn những thứ liên quan đậu, thậm chí cấm các học trò của ông ăn hoặc động vào chúng.

Không ai biết rằng liệu những ác cảm này có xuất phát từ lý do sức khỏe hay niềm tin tôn giáo nào của Pythagoras không. Nhưng chính ác cảm này đã gây ra cái chết của nhà toán học thiên tài.

Theo các tài liệu, những kẻ tấn công phục kích Pythagoras nhưng ông thà chết chứ không chạy qua một cánh đồng trồng đậu.

8.     Albert Einstein khỏa thân đi lại trong nhà

Nhà bác học thiên tài Albert Einstein. (Ảnh: Quotesgram.com)

Thời còn nhỏ, Einstein là đứa trẻ khờ khạo, chậm nói. Mặc dù vậy, sau này, nhà bác học lại cho rằng sự phát triển chậm chạp giúp ông có nhiều cơ hội để suy nghĩ về các yếu tố cơ bản như không gian và thời gian. Sự tò mò về những điều đó khiến ông luôn đặt ra những câu hỏi lạ lẫm và dẫn đến những đột phá như thuyết tương đối.

Tài xế của nhà bác học kể, ông từng tận mắt thấy nhà bác học Einstein nhặt một con châu chấu trên đất và bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến.

Einstein không muốn mất tiền cho những người cắt tóc nên thường nhờ vợ cắt hộ. Ông đặc biệt thích ăn trứng và mỗi lần ăn ít nhất 2 quả, có thể là trứng rán hoặc trứng bắc (???).

Ông cũng rất nghiện ăn nấm và ăn tới 3 lần mỗi ngày. Người giúp việc của vị thiên tài cũng cho biết, Einstein có sở thích kỳ lạ là thường khỏa thân và đi dạo quanh khuôn viên nhà.

 "Có lẽ ông ấy không quan tâm chuyện mặc quần áo hoặc có thể ông ấy không nhớ là mình chưa mặc gì", người giúp việc nói.

9.     Giáo sư đãng trí Werner Heisenberg

Werner Heisenberg (1901 - 1976) là một nhà vật lý lý thuyết xuất sắc. Ông là một trong những người sáng lập ra thuyết cơ học lượng tử và đã giành giải thưởng Nobel vật lý năm 1932.

Một trong những nghiên cứu nổi tiếng nhất của Heisenberg là khám phá ra nguyên lý bất định, trong đó nói rằng vị trí và động lượng của một vật thể không thể được biết chính xác.

Mặc dù có nhiều thành tựu "để đời", nhưng giáo sư Heisenberg cũng nổi tiếng với cái đầu lúc nào cũng để trên "mây".

Ông thậm chí từng trượt kỳ thi bảo vệ luận án tiến sỹ do gần như không biết một chút về kỹ thuật thực nghiệm. Trong bài thi lý thuyết, Heisenberg cũng có lần không trả lời được những câu hỏi cực kỳ đơn giản, thí dụ như "Pin hoạt động

như thế nào?" của một giáo sư phản biện trong ban thẩm định luận án của mình.

10.   Oliver Heaviside thích sơn móng tay màu hồng

Oliver Heaviside (1850 - 1925), là một nhà khoa học, nhà vật lý, nhà toán học và kỹ sư điện người Anh. Ông là người đã phát triển các kỹ thuật toán học phức tạp để phân tích mạch điện và giải phương trình vi phân.

Là một thiên tài hiếm có, nhưng ông cũng thuộc nhóm những "người kỳ cục". Theo đó, Heaviside luôn sơn móng tay màu hồng chói, thiết kế nhà ở của mình bằng các khối đá granite khổng lồ, thậm chí ông chỉ uống sữa để tồn tại trong vài ngày.

Nhà khoa học này cũng bị mắc chứng bệnh hypergraphia, một bệnh ở não khiến người ta ham viết lách quá độ. Trong lúc làm việc, ông thường ghi chép rất nhiều ý tưởng lên những cuốn sổ ghi, và rất nhiều trong số đó đã trở thành những nghiên cứu quan trọng.

11.   Nhà vật lý với thú vui "bẻ khóa" Richard Feynman

Richard Feynman (1918 - 1988) là một trong những nhà vật lý lỗi lạc nhất và nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Ông từng giành giải thưởng Nobel về vật lý năm 1965 và được đánh giá là 1 trong 10 nhà vật lý vĩ đại nhất mọi thời đại. Feynman đã tham gia dự án Manhattan của Mỹ để tạo ra một quả bom nguyên tử.

Bên cạnh những thành tựu khoa học, Feynman còn nổi tiếng là người khá nghịch ngợm, và có sở thích khác lạ.

Một trong đó phải kể tới việc Feynman đặc biệt thích dành thời gian rỗi của mình để "chơi" với các khóa an ninh, và kết quả là ông thường mở được hầu hết các tủ chứa tài liệu mật tại phòng nghiên cứu.

12.   Stephen King khắt khe về ngữ pháp

 Stephen King có một quan điểm rất khắt khe về ngữ pháp, ông từng mỗi ngày soạn thảo 2000 chữ mà không sử dụng trạng từ. Đây cũng là bí kíp cho thành công của ông.

Trong cuốn sách On writing: A memoir of the Craft, Stephen King viết: “Tôi tin rằng con đường dẫn đến địa ngục được xây dựng bởi các trạng từ, và tôi sẽ trèo lên mái nhà để nói thật to cho mọi người biết về điều này”. Ông cũng tuyên bố rằng trạng từ làm mất đi tính chi tiết và đặc thù của toàn bộ câu. Ông viết:

“Trạng từ được tạo ra bởi nhà văn mang tư duy hèn nhát”.

Stephen King còn sở hữu một lượng tác phẩm đồ sộ, tác phẩm của ông thường có mặt trong danh sách Sách bán chạy nhất của New York.

13.   Agatha Christie không viết truyện trên bàn giấy

Agatha Christie là tác giả của 66 tiểu thuyết trinh thám và 14 tập truyện ngắn.

Nhưng bà lại không viết truyện trên bàn giấy. Thực tế, bà chưa bao giờ có một phòng làm việc riêng. Bà đã viết tác phẩm Murder on the Orient Express ở trong phòng của khách sạn. Và thay vì viết chữ, bà sử dụng máy đánh chữ để soạn thảo. Bà thường viết truyện vào bất kỳ lúc nào bà muốn, đôi khi ở trong bếp hoặc trong phòng ngủ. Ngoài ra, bà thường sáng tác truyện trước khi có cốt truyện.

ST 

15/04/2026

Bí ẩn hồ nước hồng ở Australia

Không phải màu trắng hay màu xanh thường thấy, màu nước hồ Hillier thu hút khách du lịch bởi sắc hồng hiếm có.

Đẹp mà "độc"

Hồ Hillier được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1802 bởi nhà thám hiểm kiêm họa đồ Matthew Finders.

Hồ nằm trên Đảo Middle, là hòn đảo lớn nhất trong số các hòn đảo trên quần đảo Recherche, Tây Australia. Diện tích của nó khá nhỏ, chiều dài chỉ khoảng 600 mét và chiều rộng không quá 250 mét.

Nếu đứng ở bờ hồ quan sát, bạn sẽ thấy nước chỉ hơi ngả màu hồng nhưng nếu nhìn từ trên cao xuống sẽ thấy rất rõ. Tuy nhiên, không giống như những hồ màu hồng khác trên thế giới, nếu múc nước vào cốc, màu hồng vẫn giữ nguyên.

Từ trên nhìn xuống, hồ Hillier trông như một chiếc bong bóng kẹo cao su được thổi phồng lên. Điều đó đã khiến hồ Hillier trở nên vô cùng đặc biệt.

Khi có ánh nắng mặt trời chiếu vào, mặt hồ càng lung linh, quyến rũ hơn bao giờ hết. (Ảnh: baodanang)

Trước đây, người dân bản địa thường khai thác muối từ hồ nước này nhưng ngày nay nó chỉ được sử dụng cho mục đích du lịch.

Các nhà khoa học từng đau đầu đi tìm lời giải cho màu hồng kỳ lạ của hồ nước này. Đến năm 2015, một nhóm nghiên cứu thuộc dự án Extreme Microbiome Project (XMP) mới tìm ra được câu trả lời chính xác nhất về màu hồng đặc biệt của hồ Hiller. Khi họ thu thập mẫu nước tại hồ và đem phân tích ADN, kết quả hoàn toàn khác với những suy đoán trước đây

Hồ Hillier nằm trên một hòn đảo, bao quanh là đại dương mênh mông. (Ảnh: hoiban)

Không giống như các hồ nước màu hồng trên thế giới như hồ ở Retba và hồ muối ở Vịnh San Francisco, các nhà khoa học vẫn chưa xác định màu hồng của Hillier là do đâu. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học suy đoán rằng, màu hồng của hồ được tạo bởi các loài sinh vật Dunaliella salina và Halobacteria. Giả thuyết khác lại cho là do một loài vi khuẩn màu đỏ trong lớp vỏ muối tạo nên. Màu sắc này cũng không phải là tác phẩm từ ánh sáng mặt trời, bởi người ta đã lấy một thùng nước từ hồ và màu hồng vẫn giữ nguyên dù xê dịch vị trí thùng.

Theo cuộc điều tra gần đây nhất, các nhà nghiên cứu đã xác nhận rằng loại vi khuẩn này cùng nhiều vi khuẩn extremophile khác là nguyên nhân gây nên màu sắc khác thường trong hồ.

Các nhà khoa học mô tả extremophile là một thành phần thú vị nhất và kỳ lạ nhất của hệ sinh thái trên Trái Đất bởi chúng có thể tồn tại ở những nơi rất ít loài khác có thể sống. Những sinh vật này có thể phát triển mạnh trong nhiều môi trường khắc nghiệt, bao gồm cả hồ có nồng độ muối mặn cao như hồ Hillier.

Trong số nhiều vi khuẩn thu thập trong các mẫu hồ Hillier các nhà khoa học cũng tìm thấy thêm các loại vi khuẩn màu đỏ khác bao gồm cả một số loài vi khuẩn cổ và một loại vi khuẩn gọi là Salinibacter ruber.

Nhóm nghiên cứu cũng bất ngờ xác định thấy một vi khuẩn gọi là Dechloromonas aromatica. Chúng rất giỏi trong việc phá vỡ các hợp chất như benzen và toluen, hợp chất này thường được tìm thấy trong các dung môi hóa học.


Hồ nước chuyển hồng là hiện tượng lạ khiến mọi người tò mò (Ảnh: amusingplanet)

Ngoại trừ một vài năm người dân tiến hành khai thác muối ở đây, hòn đảo và hồ nước màu hồng gần như vẫn còn nguyên vẹn. Hồ nước cung cấp cho du khách một điểm tham quan tuyệt vời nhất, đó là kỳ quan thiên nhiên của thế giới.

Ngoài Hillier, trên thế giới còn một số hồ nước màu hồng độc đáo như: Hồ Retba (hay còn gọi là Lac Rose) nằm ở phía Bắc bán đảo Cap Vert, phía Đông Bắc thủ đô Dakar, Senegal. Hồ Salina de Torrevieja và La Salina de La Mata là 2 hồ muối bao quanh Torrevieja, một thành phố ven biển ở Đông Nam Tây Ban Nha. Hồ Dusty Rose nằm ở British Columbia, Canada và có những đặc tính kỳ lạ. Mặc dù hồ không có muối hay tảo, nhưng nước vẫn có màu hồng. Hay Masazirgol (còn gọi là hồ Masazir) là hồ muối ở vùng Qaradag, gần Baku, Azerbaijan.

Bơi không sợ chìm

Được biết, nồng độ muối của nước hồ Hiller rất cao so với nồng độ ở các hồ chứa nước thông thường - một hiện tượng tương tự như ở Biển Chết. Vì lẽ đó, độ đặc của nước hồ là cao hơn so với trọng lượng của cơ thể con người. Nếu có sẩy chân rơi xuống hồ, cơ thể bạn sẽ được "nâng" lên bề mặt mà không lo chìm rồi đuối nước.

Tuy nhiên, việc tham quan hồ Hiller chỉ có thể di chuyển bằng trực thăng hoặc thuyền. Nên nhiều du khách sợ độ cao buộc phải bỏ lỡ cơ hội chiêm ngưỡng cảnh tượng ngoạn mục trên hồ Hiller.






Sưu tầm 



10/04/2026

Bộ lạc cho phụ nữ "quan hệ" thoải mái trước khi lấy chồng

   Trong nhiều thế kỷ qua, bộ lạc du mục Tuareg đã đi khắp sa mạc Sahara, sống rải rác từ Libya cho đến Algeria, Niger và Mali của châu Phi, theo trang Every Culture.

Đàn ông của bộ lạc được gọi là “người da xanh của Sahara” bởi thuốc nhuộm từ chiếc khăn đặc biệt của họ thấm vào da mặt, tạo nên thần thái bí ẩn. Nhìn chung, bộ lạc du mục Tuareg gợi hình ảnh hoài cổ và lãng mạn, theo Daily Mail.

Nhưng đằng sau lối sống cổ xưa là nền văn hóa rất “tiến bộ”, thậm chí có thể khiến một số người phương Tây đỏ mặt.


Đàn ông Tuareg phải bịt mặt còn phụ nữ thì không.

Phụ nữ Tuareg, nơi có dân số khoảng 1 triệu người, được phép có nhiều bạn tình, giữ tất cả tài sản sau ly hôn và được tôn kính bởi con rể của họ.

Điều đáng ngạc nhiên hơn là: mặc dù bộ lạc theo đạo Hồi, họ có một số phong tục mà phần lớn người Hồi giáo không chấp nhận. Ví dụ như phụ nữ không phải đội khăn che mặt, đàn ông mới phải làm vậy.

Nhiếp ảnh gia Henrietta Butler, người đã bị cuốn hút bởi bộ lạc Tuareg kể từ khi đi theo họ qua sa mạc vào năm 2001, từng hỏi tại sao phụ nữ không che mặt ở Tuareg. Lời giải thích rất đơn giản.

“Phụ nữ rất xinh đẹp. Chúng tôi muốn nhìn thấy khuôn mặt của họ”, một người Tuareg trả lời Butler.

Phụ nữ quan hệ tình dục thoải mái

Việc phụ nữ để hở mặt chắc chắn không phải điều duy nhất khiến Tuareg khác biệt với cộng đồng Hồi giáo ở Trung Đông hay các nền văn hóa khác trên thế giới.

Trước khi kết hôn, phụ nữ được tự do có bao nhiêu người tình cùng được.

"Họ (gia đình) nhắm mắt giả vờ không biết", Butler giải thích. “Các cô gái trẻ có quyền tự do giống y như các chàng trai”.

Đàn ông Tuareg có thể đi đến lều của cô gái trẻ, lẻn vào trong khi con lạc đà của anh ta đứng lặng lẽ chờ bên ngoài.


Trước khi kết hôn, phụ nữ được tự do có bao nhiêu người tình cùng được.

Trong lều, họ sẽ qua đêm với nhau trong khi gia đình của cô gái (cũng sống trong chiếc lều lớn có nhiều không gian riêng) giả vờ không để ý.

Nếu cô gái muốn chào đón người đàn ông khác vào lều trong ngày hôm sau, cô ấy hoàn toàn có thể làm vậy mà không bị phán xét.

Tuy nhiên, Tuareg cũng có một số quy định mà không ai dám phá vỡ. Sự riêng tư là điều quan trọng đối với bộ lạc cổ xưa này. Đàn ông luôn phải rời lều của người phụ nữ trước khi mặt trời mọc.

“Người Tuareg rất kín đáo. Tất cả mọi thứ được thực hiện với sự kín đáo và tôn trọng tối đa”, Butler nói.

Nhờ có phong tục thoáng về tình dục, các cô gái thường kết hôn muộn hơn so với những người ở bộ lạc có phong tục khắt khe. Ít có cô gái nào ở Tuareg kết hôn ở tuổi 20.

Để thể hiện tình cảm với cô gái, đàn ông Tuareg, nơi có ngôn ngữ riêng, thường làm thơ. Đổi lại, các cô gái cũng viết thơ để gửi cho người mình yêu.

“Phụ nữ cũng làm thơ để ca ngợi người đàn ông”, Butler nói. “Có sự lãng mạn và thần tượng ở đây”.


Dân số của người Tuareg hiện là khoảng 1 triệu người.

Phụ nữ nắm quyền

Khác với nhiều nền văn hóa khác, phụ nữ Tureg không mất đi quyền lực sau khi kết hôn.

Du khách đến trại du mục của Tuarag thường sẽ đánh giá thấp sức mạnh của phụ nữ trong lều, nghĩ rằng nhiệm vụ duy nhất của họ là nấu nướng và chăm sóc con cái.

Nhưng thực tế, phụ nữ sở hữu toàn bộ lều và động vật – nguồn tài nguyên vô giá cho người Tuareg ở giữa sa mạc Sahara.

Nhà báo Peter Gwin cho biết một người du mục từng nói với ông: “Vật nuôi là tất cả mọi thứ của người Tuareg. Chúng tôi uống sữa, ăn thịt, sử dụng da của chúng và bán chúng. Khi con vật chết, người Tuareg chết”.

Ở Tuareg, nhiều cuộc hôn nhân kết thúc trong ly dị. Và khi điều đó xảy ra, người vợ được giữ cả vật nuôi và lều. Hơn nữa, vợ cũng thường là người quyết định ly dị.

Sau khi ly dị, người vợ được giữ cả vật nuôi, lều và con cái.

Các cặp đôi Tuareg có thỏa thuận rõ ràng trước hôn nhân. Trong thực tế, đàn ông buộc phải về nhà mẹ đẻ sau ly hôn, chỉ mang lạc đà về. Trong khi đó, người vợ sở hữu mọi thứ cô ta mang đến cuộc hôn nhân này, bao gồm con cái.

Lều của người mẹ “là gốc rễ của cộng đồng”, là nơi mọi người trở về khi gặp chuyện, Bulter giải thích.

Ly hôn không bao giờ là chuyện đáng xấu hổ ở Tuareg. Các gia đình thường tổ chức cho con gái bữa tiệc để mọi người biết rằng cô đã trở về trạng thái độc thân.

Tuy nhiên, đây không phải là xã hội mẫu hệ, nơi phụ nữ chịu trách nhiệm cho mọi việc.

Butler giải thích đàn ông vẫn là người “ngồi xuống và nói chuyện chính trị”. Phụ nữ có thể là chuyên gia tư vấn. Họ thường được con trai hoặc chồng hỏi ý kiến và lặng lẽ “giật dây đằng sau”.


Ý kiến của phụ nữ rất được tôn trọng ở Tuareg.

Có một truyền thống chắc chắn còn lạ hơn nhiều: đàn ông không được phép ăn trước mặt phụ nữ lớn tuổi trong gia đình hoặc người mà anh ta không quan hệ tình dục, đặc biệt là mẹ vợ.

"Tôi không nhận ra điều này cho đến khi ăn tối với một phụ nữ Tuareg và con rể của bà ấy", Butler nhớ lại. “Chúng tôi đều ngồi xuống ăn tối và người đàn ông quay lưng lại. Bà ấy nói người đàn ông tội nghiệp đang rất sợ hãi vì phải ăn cùng mẹ vợ”.

Gìn giữ bản sắc

Ngày nay đang có một số sự thay đổi văn hóa ở bộ lạc Tuareg. Nữ nhiếp ảnh Butler nhận thấy ngày càng nhiều phụ nữ đội khăn che mặt. Họ nói họ đeo khăn vì thời trang, không phải vì tôn giáo. Tuy nhiên, Butler không hoàn toàn tin.

Andy Morgan, quản lý nhóm nhạc người Tuareg có tên Tinariwen, từng nói vào năm 2013 rằng một số người Tuareg coi “văn hóa của họ lạc hậu và không liên quan với thế giới hiện đại”.

“Họ muốn người Tuareg học tiếng Ả Rập hay ngôn ngữ của cộng đồng Hồi giáo rộng lớn hơn... Họ cho rằng một số khía cạnh của văn hóa Tuareg, đặc biệt là âm nhạc và khiêu vũ, là thô tục và phản tôn giáo. Họ phản đối sự tự do và quyền lực xã hội của phụ nữ Tuareg”, Morgan nói.


Người Tuareg rất tự hào với các phong tục tập quán của mình.

Nhưng vẫn có hy vọng rằng Tuareg, bộ lạc đã tồn tại trong hơn 1.000 năm qua, sẽ gìn giữ truyền thống khác biệt của họ.

Nhìn chung, người Tuareg vẫn tin rằng văn hóa của họ thích hợp hơn cả.

"Họ nghĩ rằng họ vượt trội hơn các chủng tộc khác", Butler nói. “Họ rất tự hào. Họ chắc chắn coi bản thân vượt trội hơn chúng ta. Có lẽ họ thấy những nền văn hóa khác hơi ngu ngốc và nguyên thủy”.

Sưu tầm  

07/04/2026

Hãn huyết mã hay hãn huyết câu, huyền thoại hay sự thật


 Thời trẻ, khi đọc sách tới đoạn nói về con ngựa gọi là thiên mã ở Trung Hoa khi phi nước đại (gallopping) mồ hôi ngựa tuôn ra lẫn máu (Hãn= mồ hôi, Huyết = máu, Mã hay Câu= ngựa) thì tôi nghĩ đó là huyền thoại có nghĩa là không có thật (ngày nay các ông dốt chữ trên các báo ở VN chuyện gì cũng gọi là huyền thoại, như ông Pelé. danh thủ đá banh có thật, ông vô địch xe đua có thật v,v,,,đều được gắn cho nhãn hiệu huyền thoại, các ngài nói mà không hiểu mình nói cái gì). 

Còn chuyện con đà điểu chui đầu xuống cát khi sợ là không có thật, đấy mới là huyền thoại.

Trở lại chuyện con ngựa mồ hôi trộn máu, tôi đã xin phép học giả TS Nguyễn Duy Chính để trích một đoạn trong quyển: “Vó ngựa và cánh cung”, trang 17- 18 của ông:

„Khi Hán Võ Đế lên ngôi đã đem đại quân ra đánh Hung Nô, đuổi được họ về sa mạc Gobi nhưng cũng bị tổn thất nặng nề, có trận chết sạch cả chục vạn quân, Võ Đế lại sai người đi tìm mua các giống thiên mã và năm 138 trước TL đã sai Trương Khiên đi sứ mưu tính liên minh với nước Đại Nhục Chi (Yuezhi) để chống lại Hung Nô. Trương Khiên đã vượt hơn 3,000 km, mất khoảng 12 năm và có lúc đã bị Hung Nô cầm tù nhưng sau cùng cũng tới đích, nay là khoảng Afghanistan nhưng Võ Đế đã không còn tha thiết với chuyện này nữa. Dẫu sao, Trương Khiên đã đem về nhiều tin tức thu thập được trong chuyến viễn hành, đặc biệt là về giống „hãn huyết mã „của vùng Ferghana (người Trung Hoa gọi là Đại Uyển) ở Trung Á (Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan). Giống ngựa bị một loại ký sinh có tên là Parofiliaria multipupillosa khiến cho khi chaỵ nhanh mồ hôi toát ra có trộn lẫn máu. Theo mô tả, giống ngựa này chính là tổ tiên của giống Turanian và Akhal Teke ngày nay.

So sánh với những giống ngựa mà Trung Hoa có thời kỳ đó, giống ngựa Ferghana cao to hơn nhiều. Chính vì thế, một mặt Võ Đế muốn có những ngựa tốt dùng trong quân đội, mặt khác lại đi tìm thiên mã, thần mã mong được cưỡi lên núi Côn Lôn là nơi thần tiên cư ngụ ngõ hầu trường sinh bất tử. Ông sai đại tướng Lý Quảng Lợi đem 6.000 kỵ binh, 20.000 lính sang cướp ngựa. Tuy nhiên, chiến dịch này không thành công và chiến sĩ nhà Hán chết gần hết. Ba năm sau, ông lại sai Lý Quảng Lợi đem 60.000 quân với 30.000 con ngựa, dẫn theo một đoàn gia súc 100.000 con để làm thực phẩm. Lần này họ Lý đem về được 50 con Hãn huyết mã và khoảng 1.000 con ngựa giống khác

Cũng trong chiến dịch đánh Ferghana, Trương Khiên đã đi qua nước Ô Tôn (Wusun) là nơi cũng có nhiều ngựa tốt, lai giống giữa ngựa Ferghana với ngựa Mông Cổ. Nhà Hán sụp đổ đưa đến việc người Tiên Ti (Xianbei) xâm lăng, chiếm lấy miền bắc Trung Hoa. Người Tiên Ti cũng là một tộc Hung Nô thuộc sắc tộc Đột Quyết (Turk) rất thiện thuật ky. mã, đã xây dựng được một quốc gia hùng mạnh trên lưng ngựa.

Ở đoạn văn trên, xin nói rõ về hai điểm:

1/ Ferghana mà người TH gọi là Đại Uyển là một thành phố ở phía đông nước Ouzbekistan, thuộc Trung Á, để dể định vị trí, nó ở phía bắc Afghanistan.

2/ Con kí sinh tên là: Parafilaria Multipapillosa chứ không phải là Parofiliaria Multipupillosa.

Có 2 giả thuyết giải thích vì sao có sự xuất huyết khi con ngựa Ferghana phi nước đại

Theo GS về Trung Hoa học Victor Mair:

1/ Các vi mạch dưới da vỡ ra khi ngựa phi nước đại.

2/ Hoặc do các con kí sinh dạng ống (nematode) Parafilaria Multipapillosa tạo nên các u nhỏ rồi loét da mà chảy máu, không biết thuyết nào đúng. Nếu ngựa bị nhiễm con kí sinh này thì trị bằng IVERMECTIN , ngày nay được nhắc đến nhiều vì có tin đồn là thuốc chữa được covid 19?! nhưng FDA không chấp nhận.

Vậy thì Hãn Huyết Mã là con ngựa có thật, tồn tại cho đến ngày nay, là ngựa Akhal Téké. gốc từ Turmenistan, là biểu tượng của quốc gia này. tên nó do tên ốc đảo Akhal,thuộc bộ tộc Teke là địa danh và tên tộc người cư ngụ tại đây. Được coi là loài ngựa quí hiếm nhất thế giới, tốc độ chạy cực nhanh, khả năng chịu đựng dẻo dai, được thuần hoá khoảng 3.000 năm trước, nhập vào TH nhiều lần nhưng không sống được.

Có 12 đặc điểm về hình dạng:

3 thứ dài: cổ dài, tai dài, chân trước dài

3 thứ ngắn: lưng ngắn, xương đuôi ngắn, chân sau ngắn.

3 thứ rộng: trán rộng, ngực rộng, mông đùi rộng.

3 thứ thanh: da thanh, mắt thanh, móng thanh.

Hai bên hông sườn không thịt. Xin xem hình đinh kèm ở trên

Có một bức tượng đồng thau đời Đông Hán, đào được trong một phần mộ, gọi là thiên mã, Gansu Flying horse nay được lấy làm biểu tượng cho ngành du lịch TH, tạc hình một con ngựa , cái móng chân sau bên mặt đạp lên một con chim én đang bay, nên tượng được gọi là mã đạp phi yến. Các ông Tàu thì trí tưởng tượng vô cùng phong phú, dùng hình ảnh hết sức tài tình. Chữ phi mã này được một ông tổng trưởng kinh tế thời VNCH lúc vật giá leo thang hết mức ông dùng chữ lạm phát phi mã thật là hay.


Nhưng nếu nhìn kỹ tượng mã đạp phi yến, thì không đúng 12 tiêu chuẩn của con ngựa Akhal Teke, vì nó mập lù, bị bịnh béo phì, tròn trịa, có lẽ dựa theo tiêu chuẩn đẹp của đời Hán Đường,mập chảy mỡ mới là đẹp như Dương Quý Phi, hoặc điêu khắc gia thời đó chưa bao giờ được thấy con ngựa Akhal Teke bằng xương bằng thịt.

Nhân đây, xin nói về chuyện một ông tỷ phú TH tên Chen Zifeng, đã bỏ ra 312M đô la US để mua và nhân giống ngựa Akhal Teke của Turkmenistan, đem về trại ngựa của ông ở Urumqui Tân Cương từ năm 2009 tới nay vị tỉ phú này có 300 Hãn huyết Mã, mục tiêu ông nhắm là 1.000 con trong vòng 8 năm tới. Cho tới nay, trên toàn thế giới chỉ có 8.000 HHM. Trên thế giới, trừ các con ngựa đã đoạt giải Derby Kentucky USA, Hãn Huyết Mã là con ngựa đắt giá nhất.

Tăng Quốc Kiệt









01/04/2026

Nói chuyện Già

Ngày xưa, khi gã còn trẻ, ai nói đúng sai gì, gã cũng tìm cách phản bác. Bây giờ già rồi, kinh nghiệm đầy mình, nhìn thấy cuộc đời muôn mặt, gã trở nên dễ dãi hơn, ai nói gì cũng… gật, ai nói gì cũng thấy có lý... 
Gã nói: “Ấy là dấu hiệu đã về già”.
Rồi gã lại lẩn thẩn suy nghĩ: “Bao nhiêu tuổi mới gọi là già nhỉ?”

 Hồi gã mới 14,15 tuổi, thấy các chị hàng xóm 18, đôi mươi, gã cứ nghĩ là những bà cô thuộc loại già khú đế! Bây giờ, gần 60 tuổi, nhìn các bà 50 tuổi gã lại cho là trẻ, nhìn các mẹ bốn chục, gã cho là con nít ranh! Thế thì, bao nhiêu tuổi mới gọi là già?!!!

Ở xóm trên có bà cụ tuổi 90, chiều qua, than vãn với gã: “Giờ tôi còn khỏe, mai mốt già rồi chẳng biết nương dựa vào ai!”
90 tuổi mà còn nói: “…mai mốt già rồi…”. Thế thì, bao nhiêu tuổi mới gọi là già?!!!

 Mỗi sáng đứng trước gương, thấy trán mình cao hơn, đừng tưởng mình sắp trở thành người thông thái, mà phải biết đó là chứng rụng tóc, đó là dấu hiệu của tuổi già… Nếu mình thấy thiên hạ dường như trẻ lại, thì chính là mình đang già đi.

Những lúc khề khà bên chén rượu với mấy ông bạn đồng liêu, gã nói: Khi về già thì tai điếc đặc, nghe nhạc cứ như “đàn gảy tai trâu”. Nhưng có cái lợi là ai chê bai, trách móc, thậm chí chửi bới, mình cũng chẳng nghe. Họ nói, họ nghe.
Khi về già, mắt kém, đọc sách báo một lúc, chữ cứ nhòe đi, nghĩ cũng bực nhưng lại có thời gian đi tản bộ quanh làng ngắm cảnh thiên nhiên.
Khi về già, đầu óc không còn minh mẫn nữa, nói trước, quên sau. Cũng hay, bởi nhiều thứ đang cần vứt bỏ bớt đi cho tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng, giữ lại cũng chẳng sinh ích lợi gì mà khiến mình cứ phải suy nghĩ vẩn vơ.
Khi về già, chân tay trở nên lóng cóng, ăn uống không được gọn gàng, thức ăn rơi vãi ra ngoài, dính cả lên râu, lên mép. Gã nhớ đến câu chuyện đứa bé đẽo máng gỗ để dành cho cha mẹ lúc về già có cái mà dùng, thật là chí lý.
Khi về già, ăn uống thứ gì cũng phải kiêng khem. Kiêng mặn, kiêng ngọt, kiêng chất béo, kiêng thuốc lá, kiêng rượu,...

 Riêng gã, kiêng gì cũng được, nhất định không kiêng rượu. Đi khám bệnh, cố nèo cho được thang thuốc bắc về ngâm rượu. Bữa cơm nào cũng phải có tí rượu. Chán rượu, có nghĩa là sức khỏe có vấn đề.
Gã quan niệm, kiêng cũng chết mà không kiêng cũng chết. Chết là quy luật của tạo hóa. Chết là một phần tất yếu của cuộc sống, nếu như không muốn nói đó là một kinh nghiệm kỳ thú mà mỗi chúng ta chỉ được trải nghiệm một lần duy nhất trên đời...   

    Ai rồi cũng sẽ chết, kẻ chết già người chết trẻ. Người già chết, chúng ta mừng cho họ vì họ thoát khỏi hệ lụy trần gian, không còn là gánh nặng cho con cháu. Người trẻ chết, chúng ta cũng mừng cho họ vì họ không còn phải bận tâm công ăn việc làm, cơm áo gạo tiền, khỏi lo nhà cửa, khỏi lo yêu thương, giận hờn, ghen ghét, khỏi lo…

 Khi về già, sức khỏe là vốn quý. Nhưng nếu không hề đau ốm, thì cũng rất nhàm chán, không cảm nhận hết được cái vốn quý ấy. Theo kinh nghiệm của gã, thỉnh thoảng nên ốm một trận. Nhẹ thì chỉ cần bảo vợ con cho ăn bánh đúc mắm tôm, đấm lưng, cạo gió, nấu nồi nước xông. Xông xong rồi lau người cho khô, lên giường ngủ một giấc. Sáng mai thức dậy thấy đời tươi phơi phới!!! Nếu bệnh nặng, phải đi nằm bệnh viện thì chớ vội nản lòng. Ngoài vợ con cháu chắt chạy ra chạy vào chăm sóc, thể nào cũng có một vài ông bạn cố tri tìm đến an ủi, thăm nom. Thế chẳng phải là hạnh phúc lắm ru?!

 Nói thế thôi, khỏe mạnh thì vẫn hơn. Sáng sáng, ra đường đi bộ cho giãn gân cốt, hít thở khí trời trong lành, mà suy ngẫm về cuộc đời đã cho mình nhiều may mắn, mà tạ ơn Trời Đất. Có một hôm, vô tình, không hẹn mà gặp, gã đi bộ cùng với bà hàng xóm. Chẳng biết bà nghĩ gì, nhưng gã thấy bà vui, gã cũng vui. Bà kể chuyện huyên thuyên, đủ mọi thứ trên đời, chẳng đâu vào đâu. Lúc chia tay, gã cảm thấy có một chút lưu luyến, bà ấy cũng vậy. Gã cảm thấy yêu đời hơn.

 Gã cảm thấy yêu đời hơn, thế nên, gã đi nhuộm tóc. Tối hôm sau, gã rủ vợ đi ăn cơm tiệm. Chưa kịp yên vị, bà chủ tiệm hỏi: “Hai chị em dùng gì?”. Gã bực lắm. Hồi trẻ, chắc chắn sẽ to chuyện. Bây giờ già rồi, lão tự nhủ: “Một câu nhịn, chín câu lành”.


Già rồi, nhịn riết cũng quen. Nhiều người già tự đặt cho mình một quy luật để sống, răm rắp tuân theo, sáng trưa chiều tối… Gã nghĩ, thế cũng tốt nhưng khắt khe với bản thân mình quá thì cũng không nên. Không nên để tâm bực bội những chuyện vu vơ. Không nên tranh luận chuyện thiên hạ làm chi để hao mòn sinh lực, tổn hại tình thân hữu. Đánh cờ cũng vậy, đánh cờ là để giải trí, không nhất thiết phải thắng, thắng chưa chắc đã lợi, thua không hẳn là thiệt.

 Già rồi, khi bị chê bai, gã cười, không buồn, không oán trách. 

Già rồi, nghe thiên hạ khoe khoang, gã cứ giả vờ tin như thật. Gã chẳng mất gì mà làm cho thiên hạ sướng, lên tận mây xanh.
Già rồi, còn làm được gì giúp ích cho đời, cho gia đình, cho bản thân mình thì cố gắng mà làm. Đừng nuôi mộng ước cao xa để rồi đến chết vẫn không thực hiện nổi. Hôm trước gã đi thăm ông nhà văn sắp chết vì ung thư. Nằm thoi thóp trên giường bệnh mà cứ thở vắn than dài do tác phẩm để đời, ấp ủ bấy lâu nay, vẫn chưa viết được chữ nào!
Già rồi, thỉnh thoảng gặp gỡ bạn bè, lếu láo vài ba chung rượu, ôn lại buồn vui sự đời, đó là hạnh phúc. Già rồi, còn gặp nhau được ngày nào biết ngày đó, nên phải trân trọng, yêu quý.
Già rồi, ai nói đúng sai gì, kệ họ. Cuộc đời muôn mặt, nên ai nói gì cũng có cái lý của riêng họ. Gã chỉ biết lắng nghe và cảm nhận.

 Hôm nay, ngày đầu tháng , gã cầu chúc mọi người “già” thêm một tí, “lẩn thẩn” thêm một tí, “dở hơi” thêm một tí để tuổi già vui thêm một tí, để cuộc đời tươi thêm một tí và để thiên hạ “sướng” thêm một tí, “sướng” lên tận trời cao, ấy chứ lỵ....!

Sưu tầm