1. Xã hội này giữa người với người đừng nên nhìn mặt đoán
lòng. Họ cười họ nói một đằng nhưng trong tâm họ lại nghĩ một kiểu.
Hoá ra thứ lạnh lẽo nhất trên đời này chính là lòng người...
2. Chẳng bao giờ người ta cần có lý do để ghét bỏ ai đó. Yêu
hay ghét nó là cảm giác của mỗi người, mà con người luôn là tạo vật đầy rẫy mâu
thuẫn, thế nên, đừng dằn vặt mình vì: "Sao nó ghét mình?", "Mình
đã làm gì nó đâu?" có bới móc tìm ra lý do biện minh cho việc yêu quý hay
hờn ghét, nói thật là chẳng để làm gì. Nó ghét vì nó thích thế. Đơn giản vậy
thôi!
3. Lời đồn xuất phát từ những kẻ hay ghét người khác. Lan
truyền bởi những kẻ dại khờ và được chấp nhận bởi những kẻ ngu ngốc
4. Cuộc đời này ngắn lắm, chớp mắt trôi qua đã hết nửa quãng
thanh xuân. Trong cái lúc tuổi xanh vùn vụt chạy qua như chuyến tàu tốc hành,
còn bao nhiêu chuyện khác phải lo để tồn tại, cớ gì phải vơ hết chuyện thiên hạ
về mình cho mệt?
5. Càng ngày tôi càng thấy sợ một số người xung quanh mình.
Họ diễn hay quá và hạ màn cũng thật bất ngờ.
6. Người đời không nuôi bạn lớn ngày nào. Lúc bạn đau khổ, họ
cũng không ở cạnh lo cho bạn, vỗ về nỗi đau của bạn. Lúc bạn vui, họ lại càng
không quan tâm, chưa kể còn có phần ganh ghét. Thế thì việc gì phải bận tâm lo
sợ đám đông người đời đánh giá cuộc đời bạn thế nào?
7. Không sợ chậm, chỉ sợ dừng. Những người dẫn đầu ở điểm xuất
phát, chưa chắc sẽ là người về đích sớm nhất. Những người bị tụt lại ở điểm xuất
phát, chưa chắc sẽ là người mãi mãi về sau. (Vãn Tình) Không hiểu thì đọc ngay:
https://bit.ly/khongsocham_tiki
8. Miệng lưỡi người nào ai quản nổi? Họ nói những gì họ
thích và làm những điều họ muốn chẳng bao giờ quan tâm tới những tàn nhẫn của
"thú vui" ấy. Rồi nạn nhân sẽ sống thế nào đây?
9. Làm sao để nhận biết được một con người qua vẻ bề ngoài.
Hoa hồng đẹp thế mà còn có gai đấy thôi! Con người cũng vậy…càng vẻ mặt từ bi
bao nhiêu có khi trong lòng lại càng nham hiểm bấy nhiêu…Tất nhiên cũng có những
người tuyệt vời cả về hình thức lẫn tâm hồn.
10. Bạn có sống tốt thế nào cũng có người ghét. Cho nên mình
cứ sống vui, sống khỏe đừng đánh mất sự lương thiện, tốt bụng trong mình là được!
Ừ lương thiện thì thiệt thân, nhưng tôi cứ sống cho tốt cái bụng mình thì chẳng
bao giờ phải hổ thẹn với đời.
Bây giờ phở không những đã là món ăn phổ biến khắp cả nước
mà còn được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới. Cái ngon, cái hay của nó thì khỏi
phải bàn, nhưng chuyện nó có từ bao giờ, ra đời như thế nào thì vẫn còn có nhiều
ý kiến khác nhau. Tôi xin đưa ra một tư liệu để bạn đọc tham khảo.
Hồi năm 2000 gia đình tôi vẫn ở Nam Định, thi thoảng tôi vẫn
đến ăn ở hiệu phở Đồng Nguyên. Ông chủ hiệu tên là Cồ Văn Minh trước đây làm ở
Công Ty Ăn Uống TP Nam Định, đến lúc về hưu mới mở hàng này để có thêm tiền thu
nhập nhưng cái chính là để lập nghiệp cho một người con trai.
Tôi hỏi ông chắc là người Dao Cù. Ông bảo ông người Vân Cù.
Vân Cù và Dao Cù là hai thôn liền nhau, cùng một xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực.
Tôi tra từ điển Hán Việt thì được biết “cù” có nghĩa là con đường thông bốn ngả
(ngã tư). Con đường làm quan thì gọi là vân cù (đường mây). Còn “dao” là một thứ
ngọc đẹp, dao cù có nghĩa là con đường đẹp. Dân vùng ấy, nói chung là dân mấy
huyện miền nam tỉnh Nam Định, phát âm rất nặng âm r và thường lẫn lộn giữa r và
d cho nên hồi xưa người ta thường viết là Rao Cù, không đúng, nhưng bây giờ tất
cả đều viết là Giao Cù, cũng không đúng. Lịch sử vẫn nhắc đến tên “ông nghè Dao
Cù’, đó là tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, người tổ chức nghĩa quân chống Pháp sau khi Pháp
chiếm thành Nam Định năm 1883 và đã anh dũng hy sinh. Người mang họ Cồ là dân
làng Vân Cù, mang họ Vũ mới là người Dao Cù. Ông chủ hiệu Quảng Nguyên, một nhà
hàng cao lâu rất nổi tiếng của Nam Định thời Pháp thuộc, tương tự như Phú Gia của
Hà Nội, là một người họ Vũ ở thôn Dao Cù. Tôi hỏi ông liệu có liên quan gì với
họ Cồ của ông và những cái tên làng Vân Cù, Dao Cù? Tôi chưa nghe thấy ở đâu
khác có người mang họ Cồ, chỉ nghe thấy họ Cù như ông Cù Huy Cận, bà Cù Thị Hậu…
Liệu họ Cù với họ Cồ có phải là một như họ Vũ với họ Võ không? Ông bảo không biết.
Ông Minh sinh năm Quý Dậu (1933) là người con thứ mười ba
trong gia đình. Bố ông có ba vợ, ông là con bà ba, khi sinh ra ông thì bố ông
đã sáu mươi mốt tuổi. Theo ông cụ nói, khi ông cụ được sinh ra thì phở đã có
hai ba chục năm rồi. Theo đó mà tính ngược thời gian thì phở bắt đầu có vào khoảng
những năm 1840-1850. Ấy là phở có ở Nam Định thôi, ở nơi khác thì có thể có sớm
hơn.
Chợ Rồng Nam Định đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu.
Có một sự liên quan giữa phố và phở. Phải có phố mới có phở,
mà dường như bây giờ hễ nơi nào có phố thì nơi ấy có phở mọc ra theo.
Thành Nam Định được xây vào đầu thời vua Gia Long (1804) đến
thời Minh Mạng (1833) thì được xây lại bằng gạch. Cũng dưới thời Minh Mạng
(1831) trấn Nam Định được đổi thành tỉnh Nam Định. Thành tỉnh là nơi thiết lập
bộ máy hành chính của địa phương, đi cùng với nó là một đội quân đông đúc để bảo
vệ. Có thành là có phố. Phố ở sát bên cạnh thành, đi liền với thành nhưng người
ta chỉ gọi chung là thành (citadelle). Năm 1883 Pháp đánh chiếm thành Nam Định.
Mười một năm sau, cô Tư Hồng sau khi đã phá dỡ xong thành Hà Nội lại đem đội
nhân công ấy xuống phá dỡ nốt thành Nam Định. (Tư Hồng là một nhân vật thầu
khoán nổi tiếng thời Pháp đã trúng thầu
phá dỡ thành Nam Định).
Thành Nam Định không còn, chỉ còn có phố, thành xưa hóa ra
phố, bấy giờ người ta mới gọi là thành phố (ville). Để giảm bớt vị thế của kinh
thành Thăng Long xưa, nhà Nguyễn cho đặt Bắc thành (thành Hà Nội) vào trong địa
phận của tỉnh Hà Nội rộng lớn kéo dài xuống tận mấy huyện của tỉnh Hà Nam, gần
giáp với thành phố Nam Định ngày nay. Đầu đời vua Đồng Khánh (1885) trường thi
Hà Nội bị xóa bỏ, từ đấy sĩ tử của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ đều dồn về thành phố
Nam Định để thi. Có lẽ các phố phường của Nam Định phát triển mạnh mẽ nhất
trong thời gian này. Có lẽ sau Hà Nội, không đâu có nhiều đường phố mang tên
hàng nọ hàng kia như ở Nam Định: Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Nâu, Hàng Tiện, Hàng
Cấp, Hàng Cau, Hàng Cót…
Có người nói phở bắt nguồn từ món bún sáo trâu. Lại có người
suy ra từ canh bánh đa. Canh bánh đa thường nấu với cá rô hoặc cua đồng; nấu với
thịt bò thì thành phở. Nhưng nhiều người khẳng định từ một món ăn của người Hoa
là ngưu nhục phấn. Ông Minh bảo đúng thế, các cụ nhà ta xưa chỉ có bún, miến chứ
không có phở.
Người Hoa có mặt ở Nam Định từ rất lâu nhưng đông đúc hẳn
lên có lẽ cũng chỉ khi bắt đầu xây thành, Pháp chiếm rồi phá thành. Quả chuông
của Hội quán Quảng Đông (phố Khách- Nam Định) được đúc vào năm 1834. Người Hoa
sống tập trung chủ yếu ở phố Khách (nay là phố Hoàng Văn Thụ), đa số là người
Quảng Đông, và ở phố Hàng Sắt dưới, nơi có đền Triều Châu (Sìu Châu) đa số là
người Triều Châu, Phúc Kiến. Có người còn nhớ là hồi trước năm 1954 ở phố Hàng
Sắt dưới có hàng phở của một người Hoa bán rất đông khách, phở thịt bò hầm nhừ.
Hồi sau “Giải Phóng” tôi vào Sài Gòn nhiều khi cũng thích ăn hủ tiếu bò kho.
Món này thường do người Hoa làm. Những tiếng như gầu, bạc nạm (hay nàm) cũng là
theo cách phát âm của người Hoa.
Theo ông Minh, tất nhiên là do cha ông kể lại, phở của người
Hoa bánh tráng dầy, thái to, ăn cứng; nước sánh và béo. Các cụ ngày xưa làm phở
khó nhất là tráng bánh. Bánh phải thật mỏng, sợi phải thật mềm, mướt. Thời ấy
đun bằng củi chứ chưa có than như bây giờ, khó giữ được đều lửa nên hay hỏng
bánh, có khi mười mẻ hỏng đến ba bốn, bánh hỏng các cụ bảo rằng đó là do ma vầy.
Thường là tráng bánh về đêm, khoảng tám, chín giờ tối đến bốn, năm giờ sáng hôm
sau, trước khi tráng bánh các cụ phải thắp hương cắm vào các gốc cây quanh nhà,
khấn xin các loại ma đừng làm hỏng bánh.
Món ngưu nhục phấn ở nhà hàng Grand Mercure Hanoi hoàn toàn
không giống phở.
Làng Dao Cù nằm bên con sông Đào cách thành phố Nam Định chừng
mười lăm kilômét, nếu bây giờ đi tới đó thì theo đường 55, chợ Dao Cù nằm ở
ngay bên đường, đi tiếp nữa là tới huyện Nghĩa Hưng. Không hiểu vì lý do gì
ngày xưa ở vùng này có nhiều người đi làm thuê cho các hiệu ăn của người Hoa, từ
đó có nhiều người nấu ăn giỏi và mở hàng ăn. Người ta bảo ở phố Tạ Hiện (Hà Nội)
có hồi mười người làm hàng ăn thì có đến sáu bảy người là dân Dao Cù. Gọi là
Dao Cù nhưng thực ra không phải chỉ là dân làng Dao Cù mà còn cả Vân Cù và Lộng
Điền nữa. Làng Lộng Điền cũng nằm cạnh đấy nhưng lại thuộc huyện Nghĩa Hưng. Một
số hàng “phở gia truyền Nam Định” mở ở Hà Nội bây giờ hay trương cái tên họ Cồ
có lẽ chính vì sự độc đáo ít lẫn vào đâu được, không mấy ai trương biển họ Vũ
hay một họ nào khác. Vào khoảng những năm 1980 hai hiệu phở có tiếng nhất ở Nam
Định là của ông Đán gầy và của ông Đán béo. Ông Đán béo, người đã dạy cho tôi
những bài học vỡ lòng về phở là người Lộng Điền. Người ta cũng bảo ông Ngô Gia
Khê, đầu bếp của khách sạn Phú Gia, nghệ nhân nấu ăn, được phong tước hiệu của
Pháp, cũng là người Lộng Điền.
Từ một món ăn của người Hoa, qua tư duy ẩm thực của những
người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, được nuôi dưỡng trong một môi trường phố
thị, phở ngày càng phát triển và đi vào lòng mọi tầng lớp nhân dân. Ba năm một
kỳ thi, vào mỗi dịp ấy hàng vạn sĩ tử từ Hà Nội và các tỉnh kéo về cái thành phố
Nam Định khi ấy còn nhỏ bé, dân cư thưa thớt. Có thể những anh chàng khóa sinh ấy
là những người hưởng ứng món phở tích cực hơn ai hết và định hướng cho nó, sau
đó mới đến các tầng lớp thợ thuyền và công chức.
Có thể phở cũng được hình thành ở Hà Nội và một vài nơi khác
nữa vào khoảng thời gian và cách thức tương tự nhưng có lẽ nó chỉ thực sự thành
danh là nhờ ba sáu phố phường Hà Nội. Ăn phở ở ngay phố chợ Dao Cù cũng chả
ngon. Thợ nấu phở dù là quê quán ở đâu cũng đều muốn về Hà Nội để thi thố tài
năng và lẽ dĩ nhiên phải đạt được chuẩn mực và sở thích của người Hà Nội. Chính
vì thế mà hễ nói đến phở là người ta nghĩ ngay đến Hà Nội và khi nói đến ẩm thực
Hà Nội không thể nào không nhắc đến phở. Phở đi vào văn chương cũng bắt đầu từ
các nhà văn của Hà Nội như Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân…
Thi sĩ Nguyên Sa và phu nhân trong Vườn Luxembourg, Paris,
1954.
Cả đời thi sĩ Nguyên Sa chỉ yêu một người đàn bà, và gần như
cả đời thơ ông cũng đi ra từ mối tình ấy.
Trong văn chương Việt Nam, có những nhà thơ đi qua rất nhiều
bóng hồng để làm nên thi tứ. Nhưng cũng có những người chỉ có một mối tình duy
nhất, một người đàn bà duy nhất, mà vẫn đủ để viết nên cả một đời thơ. Nguyên
Sa là một người như vậy.
Người phụ nữ ấy là Trịnh Thúy Nga. Bà không chỉ là vợ của
ông, mà còn là người bước vào đời ông từ những năm tuổi trẻ nơi đất Pháp, đi
cùng ông qua những tháng ngày học trò, qua hôn nhân, qua những chặng đời tha
hương, cho đến tận khi ông rời cõi tạm. Với Nguyên Sa, tình yêu ấy không phải một
đoạn ngắn trong đời, mà gần như là dòng chảy xuyên suốt cả cuộc đời mình.
Mối duyên ấy bắt đầu từ Paris đầu thập niên 1950. Khi ấy, Trịnh
Thúy Nga được gia đình cho sang Pháp du học. Nguyên Sa, tên thật là Trần Bích
Lan, đã sang trước đó hai năm. Qua một người quen trong gia đình, họ gặp nhau,
rồi dần dần thân thiết. Ban đầu chỉ là những cuộc gặp gỡ của tuổi trẻ nơi đất
khách, nhưng chẳng bao lâu sau, từ phía chàng trai ấy, tình cảm đã lớn dần
thành một điều rất rõ ràng.
Mùa hè năm 1953, sau khi vừa đỗ tú tài, Nguyên Sa quyết định
tỏ tình với Thúy Nga. Điều đặc biệt là ông không nói bằng những lời thông thường,
mà bằng một bài thơ tình. Theo lời bà Thúy Nga kể lại, đó gần như là bài thơ đầu
tiên trong cuộc đời ông. Riêng bài thơ ấy, bà giữ lại cho riêng mình, không
công bố, như thể muốn giữ nguyên vẹn cho mình khoảnh khắc đầu tiên khi một
chàng trai trẻ dùng thơ để bước vào trái tim mình.
Nhưng cũng ngay trong năm ấy, một biến cố lớn ập đến. Thân
sinh của Nguyên Sa qua đời ở Hà Nội. Ông buộc phải ngưng việc học, trở về nước
để gánh vác gia đình. Trong lúc tình yêu vừa chớm nở, chia ly đã đến rất nhanh.
Ông muốn người yêu về cùng, nhưng Thúy Nga khi ấy vẫn còn ước mơ học hành dang
dở, vẫn muốn ở lại Pháp để đi tiếp con đường của mình. Thế là họ phải tạm xa
nhau.
Chính từ cuộc chia tay ấy, Nguyên Sa đã viết nên những câu
thơ đầy nhớ thương sau này trở thành rất nổi tiếng:
Paris có gì lạ không em
Mai anh về em có còn ngoan…
Những câu thơ ấy về sau được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thành
ca khúc Paris có gì lạ không em, trở thành một trong những bài hát quen thuộc
nhất của nhạc Việt. Nhưng phía sau ca khúc nổi tiếng ấy, thực ra lại là nỗi bịn
rịn rất thật của một chàng trai phải rời xa người mình yêu.
Trong số những bài thơ Nguyên Sa viết cho Thúy Nga, có lẽ đặc
biệt nhất là bài thơ chỉ mang đúng một chữ làm nhan đề: Nga. Đó không chỉ là một
bài thơ tình, mà còn là bài thơ báo hỷ in trên thiệp cưới của hai người vào
ngày 17/12/1955 tại Paris. Đọc lại những câu thơ ấy, người ta vẫn thấy rõ một
Nguyên Sa vừa hóm hỉnh, vừa say đắm, vừa trẻ trung mà cũng rất quyết liệt trong
tình yêu:
Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau…
Đó là thứ tình yêu không màu mè, không kịch tính kiểu tiểu
thuyết, nhưng lại có một sức bền rất hiếm. Họ cưới nhau trong cảnh sinh viên
nghèo, không nhẫn cưới, không xe hoa, không tiệc cưới rình rang. Chỉ là ký giấy
hôn thú xong rồi cùng bạn bè ra quán cà phê uống nước, ăn bánh, bạn bè góp tiền
trả giúp cho cô dâu chú rể. Một đám cưới giản dị đến mức gần như không có gì để
khoe, nhưng lại mở đầu cho một cuộc hôn nhân kéo dài hơn bốn mươi năm, thủy
chung cho đến cuối đời.
Sau đó, hai người cùng về Việt Nam. Từ Paris trở về Sài Gòn
năm 1956, họ bước vào một giai đoạn mới. Cả hai cùng đi dạy, cùng làm giáo sư,
rồi cùng mở trường Văn Học và Văn Khôi. Nhiều thế hệ học sinh Sài Gòn năm xưa vẫn
còn nhớ hình ảnh đôi vợ chồng giáo sư Trần Bích Lan – Trịnh Thúy Nga vừa trí thức,
vừa gần gũi, cùng nhau dìu dắt học trò trong một thời rất đẹp của đời sống đô
thị miền Nam.
Rồi thời cuộc lại đổi thay. Năm 1975, họ rời Sài Gòn, quay lại
Paris, sau đó sang Mỹ năm 1978. Bao nhiêu dâu bể của một thời đại, bao nhiêu đổi
thay của lịch sử, họ vẫn đi cùng nhau. Có lẽ điều làm người ta cảm động nhất ở
mối tình này không phải là nó bắt đầu bằng thơ, mà là nó đủ bền để đi qua gần nửa
thế kỷ, qua chiến tranh, qua ly hương, qua bệnh tật, qua mọi thăng trầm mà vẫn
không rời nhau.
Những năm cuối đời, khi bệnh tật đã ở rất gần, Nguyên Sa vẫn
viết những câu thơ đầy xúc động như một lời dặn dò, một lời thủ thỉ với người vợ
đã đi cùng mình suốt đời. Trong những câu thơ ấy, ông nhắc đến Sài Gòn, nước Mỹ,
miền Nam nước Pháp, những nơi hai người từng sống qua, từng bước qua. Nhưng sau
tất cả, điều ông nhớ nhất vẫn là những mảnh đất đầu đời, nơi có tuổi trẻ, có
tình yêu đầu tiên, có những ngày cùng nhau đi học. Điều ấy cho thấy, có những mối
tình càng đi xa, càng đi lâu, rốt cuộc lại càng quay về nơi khởi đầu.
Ngày 18/4/1998, thi sĩ Nguyên Sa rời cõi tạm. Ông ra đi bên
người vợ mang tên Nga, người đã ở cạnh ông từ thuở còn rất trẻ cho đến phút cuối
cùng. Sau khi ông mất, chính bà là người chọn ngôi mộ cho ông, một nơi gần hồ
nước, dưới bóng cây mát. Trên bia mộ, bài thơ Sợi tóc của ông được khắc lại như
một lời gửi gắm cho ngàn kiếp sau.
Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở bia mộ, mà nằm ở người
còn ở lại. Sau khi Nguyên Sa rời đi, bà Thúy Nga vẫn lặng lẽ ra thăm mộ ông,
chăm hoa, cắt cỏ, chuyện trò với ông như thể sự chia xa ấy chưa bao giờ cắt đứt
được mối gắn bó giữa hai người. Bà cũng chính là người gìn giữ, thu gom, in lại
những tác phẩm thơ ca, truyện, sách và hồi ký của ông, như một cách tiếp tục
nâng niu phần đời tinh thần mà chồng mình để lại.
Nhìn lại cuộc đời Nguyên Sa, người ta thấy thơ ông đẹp, tình
ông cũng đẹp. Nhưng có lẽ điều khiến người ta nhớ lâu nhất không chỉ là những
câu thơ nổi tiếng, mà là sự thật rất hiếm hoi này: giữa một đời dài, ông chỉ có
một mối tình duy nhất, và mối tình ấy đủ lớn để nuôi sống thơ ông, đủ bền để đi
cùng ông đến tận cuối đời.
Có những thi sĩ nổi tiếng vì đa tình. Còn Nguyên Sa, có lẽ lại
khiến người ta cảm động hơn bởi sự thủy chung.
Và biết đâu, chính vì chỉ yêu một người suốt đời, nên thơ
ông mới đẹp đến vậy.
Nhiếp ảnh khỏa thân là công việc tìm ra cái đẹp trên cơ thể
con người rồi tôn vinh chúng bằng những khung hình. Thế nhưng, thực tế mà nói
thì đôi khi cái đẹp này lại cũng chính là cái "độc" khiến người nghệ
sĩ nhiếp ảnh không giữ được thiên lương trong sáng khi làm nghề.
"Nhiếp ảnh khoả thân là công việc không hề đơn giản.
Khi thực hiện, người nghệ sĩ phải đặt hết cả tâm, trí rồi toàn tâm toàn ý cho đứa
con tinh thần của mình. Khi đó, họ sẽ không còn thời gian để suy nghĩ tới những
vấn đề ngoài nghệ thuật nữa.
Sẽ có những người xem mơ hồ không phân định được đâu là nghệ
thuật, đâu là sự dung tục, đâu là hoa thơm và đâu là cỏ dại. Bởi nhiếp ảnh
khỏa thân là một thứ ngôn ngữ mà không phải ai cũng có thể cảm nhận được.
Phải có một cái nhìn thẩm mĩ mới có thể thẩm thấu được hết
những vẻ đẹp của nó", Thái Phiên chia sẻ khi được hỏi về lằn ranh giữa nghệ
thuật và sự dung tục trong nhiếp ảnh khỏa thân.
Họa sĩ Thanh Tịnh - người chịu trách nhiệm đưa ảnh nghệ thuật
lên đá - cho biết việc này là một thử thách lớn, êkip đã thực hiện trong thời
gian dài và gặp nhiều khó khăn. Có những viên đá có chiều cao đến 0,9m và trọng
lượng từ 5 đến 70kg được lấy từ khe suối ở Lâm Đồng, Phú Yên...
Sự sần sùi, cứng rắn của đá kết hợp với đường cong mềm mại
uyển chuyển của cơ thể phụ nữ tạo nên những nét riêng biệt cho triển lãm này.
Đi du lịch Ý (Rome, Florence, Venice...) mà mất sạch giấy tờ,
tiền bạc thì coi như thảm họa. Nhiều người vẫn nghĩ kẻ trộm là những gã bặm trợn,
mặc áo hoodie đen. Sai lầm hoàn toàn!
Những kẻ chuyên nghiệp nhất lại trông giống hệt du khách như
chúng ta.
Dưới đây là cẩm nang "nằm lòng" để bạn bảo vệ túi
tiền của mình:
CÔNG THỨC
"BỘ 3 HUYỀN THOẠI" ( HOẶC HƠN)
Kẻ chuyên nghiệp không đi một mình. Một nhóm tiêu chuẩn thường
có 3 người trở lên.
Người 1: Tìm kiếm mục tiêu (là bạn).
Người 2: Che chắn tầm nhìn (đứng sát, tạo vật cản).
Người 3: Trực tiếp ra tay (chỉ mất 2 giây).
Thứ 4, thứ 5 ... sẽ cản bạn nếu bị chống cự hoặc đuổi theo
Nếu thấy một
người khả nghi, hãy tìm ngay 2 người còn lại quanh đó.
NGỤY TRANG HOÀN
HẢO DƯỚI LỚP VỎ DU KHÁCH
Đừng tìm kẻ xấu qua ngoại hình. Họ mặc quần legging, đi
giày sneaker, đeo túi chéo, cột tóc đuôi ngựa, đeo kính râm trên đầu. Họ trà trộn
vào đám đông cực tốt.
Dấu hiệu nhận
biết: Họ đứng cùng nhau nhưng tuyệt đối không nói chuyện, mắt đảo liên tục để
quét các "con mồi" tiềm năng.
CHIẾC TÚI
" KHÔNG ĐÁY" VÀ CHIẾC ÁO KHOÁC VÔ LÝ
Đây là dấu hiệu dễ nhận biết nhất:
Họ thường cầm
một chiếc túi tote rất to hoặc một chiếc áo khoác vắt trên tay dù trời đang là
tháng 8 nóng 40 độ.
Công dụng: Để che bàn tay đang "làm việc" bên
trong túi của bạn.
Cảnh giác cực
cao với bất kỳ ai cầm vật gì đó che chắn ngang ngực hoặc ngang hông của bạn
trong đám đông.
CHIẾN THUẬT
" CỬA TÀU ĐIỆN NGẦM"
Họ luôn đứng sát mép cửa nơi tàu dừng. Không phải để lên
nhanh, mà để tạo cảnh chen lấn giả tạo khi cửa mở.
Lấy đồ xong có thể nhảy ngược lại sân ga ngay khi cửa sắp
đóng, khiến bạn kẹt lại trên tàu mà không làm gì được.
PHẢI LÀM GÌ NẾU BẠN PHÁT
HIỆN RA HỌ?
Đừng đối đầu. Đừng chụp ảnh hay quay phim họ. Họ làm việc
theo nhóm cố định mỗi ngày và biết cách biến du khách thành kẻ hung hãn trong mắt
người xung quanh.
Thấy nhóm 3
người im lặng đứng ngay vị trí cửa mở? Hãy lùi lại, đợi chuyến sau. Mất 4 phút
chờ đợi còn hơn mất cả chuyến đi. Nếu phát hiện trên
tàu/metro hãy cố gắng thoát khỏi tầm ngắm của họ bằng cách đi qua toa khác.
NHỮNG ĐIỂM
ĐEN CẦN ĐẶC BIỆT LƯU Ý
Rome: Metro Tuyến
A (Termini, Barberini, Vatican), xe buýt 64 và 40.
Venice: Trạm tàu
thủy (Vaporetto) Rialto và San Marco.
Naples: Tàu đi
Pompeii (tuyến tàu bị mất trộm nhiều nhất Châu Âu).
Milan: Khu vực quảng
trường Duomo và ga trung tâm Centrale, Cadorna, Porta Garibaldi..
QUY TẮC VÀNG ĐỂ BẢO
VỆ BẢN THÂN
Sử dụng túi bao tử (money
belt) hoặc túi có khóa kéo bên trong áo để đựng hộ chiếu và các thẻ quan trọng.
Những thứ khác hãy để ở két sắt khách sạn.
Không bao giờ để ví hay
điện thoại ở túi sau. Không treo túi sau lưng ghế nhà hàng. Không để điện thoại
trên bàn cà phê hướng ra đường.
Khi lên tàu/xe đông đúc, hãy xoay túi ra phía trước ngực,
không để bên hông. Luôn đặt một tay lên khóa kéo.
Kẻ móc túi không có phép
thuật. Họ chỉ là những người quan sát bạn trong 10 giây và quyết định xem bạn
có phải là "con mồi" dễ dàng nhất hay không. Một khi bạn biết họ là
ai, bạn sẽ không còn là mục tiêu của họ nữa.
Đừng để những kẻ móc túi
làm hỏng chuyến đi mơ ước của bạn. Hãy chia sẻ cho bạn bè đang có ý định đi
Châu Âu nhé!