Trang

27/05/2026

Đừng sợ ung thư – Tôi đã từ chối phẫu thuật… và học được bài học đắt giá nhất cuộc đời


 Bác sĩ nhìn tôi và nói…

“Ngôi nhà của ông đang cháy…
ông cần phẫu thuật ngay lập tức.”…

Nhưng… tôi đã nói không.

Và 10 năm sau…
tôi vẫn còn ở đây.

Nếu là bạn…
bạn có đủ can đảm…
để làm điều tương tự không?

Xin chào bạn…
tôi tên là Joseph Nguyen.

Hôm nay…
tôi không ở đây để đưa ra lời khuyên y khoa.

Tôi cũng không ở đây để dạy bạn…
những điều trong sách vở.

Hôm nay…
tôi muốn chia sẻ với bạn…
một quyết định.

Một quyết định…
có thể đã khiến tôi…
mất mạng.

Khoảng 10 năm trước…
tôi đi khám sức khỏe định kỳ.

Giống như bất kỳ ngày bình thường nào.

Tôi không hề mong đợi…
điều gì bất thường.

Nhưng khi kết quả trả về…
mọi thứ đã thay đổi.

Chỉ số PSA của tôi…
là 21,5.

Và nếu bạn biết gì về con số đó…
bạn sẽ hiểu…
nó đáng lẽ phải dưới 4.

Theo tiêu chuẩn y khoa…
đây được xem là…
nguy cơ cao.

Và bạn biết điều gì xảy ra…
khi ai đó nghe đến từ…
“ung thư” không?

Điều đầu tiên…
không phải là đau.

Mà là sợ hãi.

Sợ cái chết.
Sợ đau đớn.
Sợ gánh nặng tài chính.
Sợ trở thành gánh nặng…
cho những người mình yêu thương.

Và tôi cũng không khác.

Tôi đã sợ.

Nhưng phần khó nhất…
không phải là chẩn đoán.

Mà là quyết định.

Phẫu thuật…
hay không phẫu thuật?

Tất cả mọi người xung quanh tôi…
đều nói giống nhau.

“Phẫu thuật là cách chữa dứt điểm.”
“Cắt bỏ đi… là xong.”
“Càng sớm… càng tốt.”

Nghe rất hợp lý.
Nghe rất an toàn.

Nhưng rồi…
một điều bất ngờ…
đã xảy ra.

Con trai tôi…
John Nguyen…
là một bác sĩ phẫu thuật ung thư.

Cháu đã dành nhiều năm…
trong phòng mổ.

Và vậy mà…
cháu nói với tôi một điều…
tôi sẽ không bao giờ quên.

“Ba…
ba cần suy nghĩ… thật kỹ.”

“Phẫu thuật…
không phải lúc nào… cũng là lựa chọn tốt nhất.”

Hãy tưởng tượng điều này…

Một bên là…
bác sĩ…
bệnh viện…
tất cả những gì bạn được dạy…
phải tin tưởng.

Bên còn lại…
là chính con trai bạn…
một bác sĩ phẫu thuật…
người hiểu hệ thống…
từ bên trong.

Tôi đứng…
giữa hai thế giới.

Và tôi không biết…
nên tin vào đâu.

Vì vậy tôi đến…
bệnh viện lớn đầu tiên.

Bác sĩ xem hồ sơ…
và không chút do dự…
ông nói:

“Ông cần phẫu thuật.”

Nhanh chóng.
Rõ ràng.
Tự tin.

Họ lên lịch tư vấn.
Chuẩn bị mọi thứ…
cho việc nhập viện.

Mọi thứ đều…
rất trơn tru.

Nhưng bên trong tôi…
có gì đó…
không ổn.

Vì vậy tôi không vội.

Tôi đến bệnh viện thứ hai.

Một chuyên gia hàng đầu…
về tiết niệu.

Tôi gặp một bác sĩ rất nổi tiếng.

Ông đón tiếp tôi nồng nhiệt.

Và ông nói:
“Tôi đã thực hiện hơn 300 ca như của ông.”

Nghe rất yên tâm.
Rất yên tâm.

Nhưng rồi…
tôi hỏi ông một câu đơn giản.

Một câu hỏi rất chân thành.

“Bác sĩ…
tôi nghe nói sau phẫu thuật…
một số bệnh nhân bị mất kiểm soát tiểu tiện…

… điều đó có đúng không?”

Ông nhìn tôi…
và nói:

“Có thể xảy ra…
hoặc có thể không.”

Một câu trả lời rất khéo.

Không sai.

Nhưng cũng không rõ ràng.

Vì vậy tôi hỏi thêm một câu nữa.

Vẫn rất tôn trọng.

“Và nếu điều đó xảy ra…
thì có thể làm gì…
để khắc phục?”

Và đột nhiên…
mọi thứ thay đổi.

Giọng ông…
đã thay đổi.

Ông nhìn tôi…
và nói:

“Nhà ông đang cháy…
mà ông lại hỏi những câu không cần thiết?”

Trong khoảnh khắc đó…
tôi không nói gì.

Tôi không tranh luận.
Không phản ứng.

Tôi chỉ nói:
“Xin lỗi bác sĩ.”

Và tôi đứng dậy…
rời đi.

Nhưng bên trong…
có điều gì đó đã thay đổi.

Một điều gì đó…
trở nên rất rõ ràng.

Tôi nhận ra…
ngày hôm đó.

Có những điều…
người ta không nói hết với bạn.

Không phải vì họ xấu.

Mà vì…
ai cũng có ưu tiên riêng.

Bệnh viện hướng đến…
ca phẫu thuật thành công.

Còn bạn…
hướng đến một cuộc sống có ý nghĩa.

Bệnh viện tập trung vào…
kết quả điều trị.

Còn bạn…
phải sống với hậu quả.

Tôi hỏi bạn một điều…

Bạn có biết…
“mất kiểm soát tiểu tiện”…
thực sự nghĩa là gì không?

Nghĩa là…
bạn không thể kiểm soát việc đi tiểu.

Nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Ngày… hay đêm.

Bạn có thể phải mang tã…
mọi lúc.

Hãy tưởng tượng điều này…

Bạn 60 tuổi…

nhưng sống…
như một đứa trẻ sơ sinh.

Đó có phải là…
chữa khỏi không?

Đó là lúc…
mọi thứ thay đổi với tôi.

Sống…
phải là sống.

Nếu việc điều trị khiến bạn tệ hơn…
so với trước…

thì chúng ta thực sự đang sửa chữa điều gì?

Tôi không chống lại bác sĩ.

Tôi không chống lại y học.

Nhưng tôi bắt đầu hiểu…
một điều sâu sắc hơn.

Y học…
không phải là toán học.

Không có gì là chắc chắn 100%.

Tôi bắt đầu tự hỏi…

Phẫu thuật thực sự phải trả giá gì?

Không chỉ là tiền.

Mà là sức lực.
Năng lượng.
Hệ miễn dịch.
Thời gian hồi phục.

Tôi không quyết định trong một đêm.

Tôi không quyết định…
bằng cảm xúc.

Tôi dành thời gian.

Tôi suy nghĩ.

Tôi đặt câu hỏi.

Tôi lắng nghe…
cơ thể mình.

Và cuối cùng…
tôi đưa ra quyết định.

Tôi từ chối phẫu thuật.

Một số người nói…
tôi liều lĩnh.

Một số người nói…
tôi không hiểu y học.

Nhưng tôi biết một điều…
rất rõ ràng.

Đây là cuộc đời của tôi.

Và tôi chịu trách nhiệm…
cho quyết định của mình.

Tôi chọn một con đường khác.

Một con đường…
ít xâm lấn hơn.

Suy nghĩ nhiều hơn.

Phù hợp hơn…
với cơ thể tôi.

Và quan trọng nhất…

một con đường…
không bị dẫn dắt bởi nỗi sợ.

Và hôm nay…

hơn 10 năm sau…

tôi vẫn ở đây.

Vẫn sống.

Vẫn đang nói chuyện…
với bạn.

Giờ hãy lắng nghe kỹ…

Tôi không nói bạn…
phải làm như tôi.

Tôi nói với bạn…
một điều quan trọng hơn.

Không có một con đường duy nhất…
cho tất cả mọi người.

Câu hỏi thật sự không phải là…
“Bạn có nên phẫu thuật không?”

Câu hỏi thật sự là…

Bạn đang lựa chọn…
hay chỉ đang phản ứng…
vì sợ hãi?

Bởi vì kẻ thù lớn nhất…

không phải là ung thư.

Mà là nỗi sợ.

Nỗi sợ lấy đi giấc ngủ của bạn.
Làm suy yếu cơ thể bạn.
Đẩy bạn vào những quyết định vội vàng.

Nhưng khi bạn trở nên bình tĩnh…

khi bạn bắt đầu nhìn rõ hơn…

mọi thứ bắt đầu thay đổi.

Bạn thở khác đi.

Bạn nghĩ khác đi.

Bạn sống khác đi.

Và đó…

là nơi sự chữa lành bắt đầu.

Nếu bạn đã ở lại đến đây…

tôi muốn hỏi bạn một điều.

Nếu bạn ở vị trí của tôi…

bạn sẽ chọn gì?

 

Nếu bạn tin rằng…
mỗi người đều có quyền chọn con đường của mình…

hãy bình luận “1”.

Nếu bạn vẫn chưa chắc chắn…

hãy bình luận “0”.

Và nếu câu chuyện này…
có ý nghĩa với bạn…

hãy chia sẻ nó…

với người bạn quan tâm.

Không phải vì họ đang bệnh.

Mà vì một ngày nào đó…

họ có thể cần…
nghe điều này.

Trong video tiếp theo…

tôi sẽ chia sẻ một điều…
mà gần như không bác sĩ nào…
giải thích rõ.

Một sự thật sâu sắc hơn…

lý do thực sự vì sao…
tôi từ chối phẫu thuật…

mà vẫn sống…
khỏe mạnh đến hôm nay.

Và khi bạn hiểu điều đó…

bạn có thể sẽ nhìn ung thư…
theo một cách hoàn toàn khác.

Cuộc đời ngắn lắm.

Hãy sống với…
sự rõ ràng.
Tình yêu.
Và niềm tin.

Tôi là Joseph Nguyen.

Và tôi cầu nguyện cho bạn…
mỗi ngày.

Hẹn gặp lại bạn…
trong video tiếp theo.

 Joseph Nguyễn 

21/05/2026

Những kẻ bị quên lãng ở Sainte-Livrade


Les oubliés d’Indochine du Camp de Sainte-Livrade. Nguồn: Michel Bui

Sau Hiệp định Genève ký kết ngày 20/7/1954, những đơn vị quân đội Pháp ở Bắc Việt đã được rút vào Sài Gòn. Nhưng cho mãi đến tháng tư, năm 1956, quân đội Pháp mới cuốn cờ rút hết khỏi Sài Gòn.

Trong đám lính Pháp hồi hương có khoảng 30.000 binh sĩ chính quy.

Bên cạnh đó còn có một số người Pháp gốc Đông Dương. Họ có thể là những binh lính, công chức hoặc nhà buôn hoặc các bà góa có chồng Pháp hoặc các bà có chồng Pháp bị bỏ rơi. Cộng chung gồm 467 người lớn và 754 trẻ con.

Những người này không thể hội nhập dễ dàng vào nước Pháp được. Vì thế họ được chính quyền Pháp cho ở trong những căn trại nhà binh bỏ trống. Vào ngày 7 tháng 10 năm 1955, thị trưởng Maurice Picard ở Lot-et-Garonne tìm thấy ở xã Sainte-Livrade-sur-lot, cách vùng Agen chừng 40 kilô mét có 36 căn doanh trại, mỗi căn dài 50 mét bỏ hoang từ hồi sau thế chiến thứ hai.

Thế là chính phủ Pháp biến doanh trại bỏ hoang này thành Trung tâm tiếp đón các người Pháp gốc Đông Dương. (Centre d’accueil des Francais d’Indochine — CAFI). Trung tâm có thể tiếp nhận được 2000 người. Đa số họ là người Việt, còn lại một số nhỏ là người Lào và Cao Mên. Họ xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội của chế độ thuộc địa cũ. Người ta cũng thấy trong đám họ một người thuộc hoàng phái của triều đình Annam từ thế kỷ 16, công chúa Xuân-Tư.

Những doanh trại bỏ hoang này ở tình trạng tồi tàn, cửa siêu vẹo, tường vôi tróc sơn, mối mọt, ẩm mốc. Cửa kính cái còn cái mất được thay thế bằng những miếng nhựa. Cống rãnh hư hỏng lầy lội. Chung quanh có những hàng rào kẽm gai, dấu tích của doanh trại nhà binh đế lại. Cỏ mọc rậm rạp khắp nơi cần phải dọn dẹp.

Gạch lát sàn nhà bong ra để trơ nền đất ẩm..Trần nhà bằng cát tông và có khóang amiang (abestos) ở dưới mái nhà. Nhưng quan trọng hơn cả là hệ thống cống rãnh hư hỏng. Người ta còn đọc được một phúc trình của bác sĩ Yann Daoulas trông coi trại vào năm 1961 như sau: “Plus d’un millier d’individus croupissent dans la boue, les immondices” (Hơn một ngàn con người ở chen chúc nhau trong bùn lầy và rác rưởi).

Thật khó tưởng tưởng tượng là có thể có một số người đã ở đây trong những căn nhà đổ nát này trong nhiều năm trời.

Đó là trường hợp anh Patrick Fernand đã từng sinh ra trong khu trại binh này và nay anh là chủ tịch Hiệp hội những kẻ thường trú và bạn của Trung tâm tiếp đón những người Pháp gốc Đông Dương. (ARAC). Và anh chỉ cho chúng tôi căn nhà mà bố mẹ anh cũng như em của anh hiện còn đang ở đó. Trong căn nhà này, lò sưởi bằng củi cháy ngùn ngụt để chống cái lạnh từ bên ngoài lùa vào. Các căn phòng chật hẹp được ngăn bằng những tấm vách tạm bợ. Trên tưởng, có treo một bức hình một người phụ nữ Á Đông xinh đẹp. Anh Patrick Fernand chỉ tay lên bức hình nói: Mẹ tôi đấy. Bà để răng đen theo cách phụ nữ Á Đông xưa.

Vậy mà câu chuyện xưa trải qua nay đã 58 năm trôi qua. Lúc đầu, mỗi gia đình được cho ở với một diện tích ba bốn phòng nhỏ trang bị sơ sài, một vài đồ dùng trong bếp, khăn trải giường và mỗi người được phát hai chăn. Những người này không phải trả tiền thuê nhà. Nhưng họ sẽ bị đuổi ra khỏi doanh trại nếu có dấu hiệu họ giàu có như có xe hơi, có TV, máy giặt hay tủ lạnh. Theo quy định của trại, có những thứ trên thì không thích hợp ở trong những căn nhà xã hội do nhà nước phải trả chi phí.

Quản lý trại có một giám đốc trại xuất thân từ thời thuộc địa, một thư ký, bốn nhân viên bảo trì, một bác sĩ và hai trợ tá xã hội.

Ở đây cũng có mở một trường học vào ngày 8-10-1956 và tiếp đón 356 học sinh trong 10 lớp. Francois Boccheciampe còn nhớ lại: “Bỗng chốc, phải học nói tiếng Pháp mà thoạt đầu không hiểu gì. Không có chọn lựa nào khác. Nhưng cũng là cách tốt nhất để chúng tôi có thể hội nhập vào xã hội.”

Ngoài đồng ruộng, còn có những người phụ nữ đội nón

Cuộc sống chung đụng giữa 1200 người ngoại quốc trong một khu làng có 3700 dân cư ngụ lúc đầu không dễ dàng gì. Nhưng rồi, các sổ hộ tịch cho thấy đã có nhiều đám cưới giữa đám người Đông Dương này với dân vùng Livradais. Các cuộc hôn nhân dị chủng này chứng tỏ sự hội nhập thật có kết quả nhanh chóng. Trẻ con trong khu doanh trại cũng có trình độ học vấn như trẻ con trong làng càng đẩy nhanh tiến trình hội nhập.

Nhưng dù có thiện chí mau chóng hội nhập, những người Đông Dương này cũng không có lý do gì phủ nhận cái văn hóa của họ. Từ khi đến đây, ở một góc nhỏ địa lý vùng Tây Nam nước Pháp tỏa ra một mùi hương thơm Á Châu. Trong các căn nhà ở doanh trại cũ, người ta cũng thấy treo một tấm gương với nhiều mảnh nhỏ ghép lại treo lủng lẳng trước mỗi cửa nhà mà theo sự tin tưởng của mấy người này là để xua đuổi tà ma.

Trước cửa mỗi nhà thường trồng mấy luống rau muống, rau bạc hà, mấy luống hành. Theo lời kể của Patrick Fernand, những người làm ruộng còn trồng những rau trái đặc sản Á Đông để đem bán cho hai cửa tiệm Á Đông trong trại.

Và mọi chuyện diễn ra như thế không có một biến chuyển lớn nào trong trung tâm qua 8 đời chính phủ liên tiếp mà không một ai có trách nhiệm quan tâm đến số phận những người dân Đông Dương tại Saint-Livrade. Và cho đến những năm cuối 1970, trong trại hầu như không có gì đổi khác như hồi 1956.

Năm 1981, chính quyền thị xã mua lại các lô đất, nhưng do thiếu phương tiện nên chỉ có thể sửa chữa khẩn cấp để chống lại sự hư nát của các nhà doanh trại..

Anh Patrick Fernand giải thích: Các bậc cha mẹ của chúng tôi bỏ lại tất cả của cải để sang đây. Và họ đã không đòi hỏi cũng như than phiền bất cứ điều gì. Họ bắt tay vào làm việc, đàn ông thì làm trong các xưởng đóng đồ hộp trong vùng, hoặc làm thợ đóng giầy ngay trong trại. Phần phụ nữ đi làm công việc hái lượm tùy theo mùa như đi hái mận, hái dâu và nhất là đậu ha ri cô ve. Trong các trang trại, người ta quen với hình ảnh đội nón làm việc tiêu biểu cho giới nhà nông trên các đồng ruộng. Và người dân địa phương hẳn nhiên là thích thú với tiền nhân công rẻ, lại dễ bảo, trả tiền mặt chẳng thuế má gì.

Với thời gian

Với thời gian, các người lớn tuổi chết dần mòn. Giới trẻ mới lớn lên cũng ra đi lập nghiệp nơi khác. Saint-Livrade chìm vào sự quên lãng. Năm 2005, có một dự án do cơ quan quốc gia tái thiết đô thị (ANRY): Tái xây dựng lại khoảng 100 đơn vị gia cư để dành cho khoảng 60 người cuối cùng còn sót lại. Hầu hết là phụ nữ. Nhưng khi mà những chiếc xe ủi đất chuẩn bị tiến hành việc san bằng các căn nhà cũ hư hỏng, thị xã bất ngờ phải đối đầu với một vấn đề ngoài mong đợi: Các “má” gọi theo cách thân thương các người phụ nữ thế hệ ban đầu lại không muốn rời những căn nhà cũ kỹ xưa kia. Theo thị trưởng Claire Pasut, chỉ cần dọn ra khỏi căn nhà cũ và dọn vào căn nhà mới cách khoảng 20 mét để sống trong những căn nhà mới đủ tiện nghi, nhưng với các “má” thì đó là một cuộc bứng gốc rễ một lần nữa. Mà ngay cả những trẻ con từng sống ở Cafi, mặc dầu đã bỏ ra đi làm ăn ở nơi khác, chúng cũng từ chối không chấp nhận việc san bằng nơi đây với đầy những kỷ niệm. Thị trưởng cho rằng: “việc giữ lại những căn chung cư này là điều không thể, các căn chung cư đã trở thành quá nguy hiểm.”

Các sự kiện xảy ra sau đó cho thấy ý kiến của ông thị trưởng là có lý. Năm 2005, ngày lễ Saint-Sylvestre, Liliane Andréas, 87 tuổi, đã bị chết cháy trong căn hộ do chảo dầu chiên bốc cháy. Số người chết có thể nhiều hơn thế nhiều nếu những người hàng xóm của bà có mặt tại nhà bữa đó.

Chính quyền địa phương quyết định tiến hành việc dọn các người còn lại sang các căn hộ mới, nhưng không quên bảo tồn những dấu tích của doanh trại cũ. Để thực hiện được điều này, họ đã đề cử một ủy ban khoa học do Martine-Dalas, chuyên viên bảo tồn các di sản quốc gia cầm đầu, quy tụ các nhà sử học, các nhà xã hội học và các nhà thiết kế đô thị. Sau khi tham khảo thêm Hiệp hội như ARAC và CEP (Coordination des Eurasiens de Paris) quy tụ những người đã từng sống ở CAFI. Họ cũng tuyển dụng một chuyên viên về văn khố để thu tập các tài liệu ký ức về CAFI, chẳng hạn các tài liệu về hành chánh, các hình ảnh cá nhân của các người đã từng sống ở đây và các chứng nhân cũ. Bốn căn hộ doanh trại cũng như nhà thờ và chùa cũng đã được lưu giữ lại.

Hằng năm, người ta vẫn tiếp tục tổ chức ngày tết cổ truyền tại Sainte-Livrade và múa lân trên các phố cũ của doanh trại dành cho người Đông Dương trước đây.

Que Huong/Terre Natale, Extraits : documentaire 26 minutes sur les rapatriés d’Indochine vivant dans le camp de St-Livrade sur lot, Co-realisé avec Delphine Bole/Emmanuel Dejoux en 2004, 3Is production

Le CAFI : Les oubliés d’Indochine du Camp de Sainte-Livrade

Published on Jun 17, 2014, La Roseraie des Cultures – 7ème édition – Exposition Nguồn: Lược dịch bài Les oubliés de Sainte-Livrade, của Cyril Guinet trong tạp chí GéoHistoire, số tháng ba-tư năm 2014, trang 112-115.

Đọc thêm: Le site des Rapatriés français d’indochine.

Tác Giả:Nguyễn Văn Lục

Sainte-Livrade ngày nay

 



18/05/2026

Đệ tử duy nhất của Dương Quá: Võ công không chỉ vượt trội hơn còn đem lòng yêu người con gái thích sư phụ

 Cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Dương Quá và tiểu sư đồ

Dương Quá là nhân vật chính của tiểu thuyết "Thần điêu đại hiệp" còn được biết đến với tên gọi "Thần điêu hiệp lữ" của nhà văn Kim Dung. Trong những chuyến phiêu lưu, chàng còn được biết đến với cái tên Thần Điêu đại hiệp. Và sau sự kiện Hoa Sơn luận kiếm lần thứ ba, Dương Quá được mệnh danh là một trong những Võ Lâm Ngũ Bá, với biệt danh là Tây Cuồng.

Từng có một thời, Dương Quá chỉ là một chàng trai trẻ tài năng giữa vô vàn anh hùng hào kiệt. So với những bậc tiền bối như Vương Trùng Dương, Quách Tĩnh hay Hoàng Dược Sư, chàng trai trẻ Dương Quá dường như chưa đủ tầm vóc. Tuy nhiên, nhờ trí thông minh thiên bẩm và khả năng tự học hỏi, Dương Quá đã tự mình lĩnh hội được tinh hoa võ học, dần tôi luyện nên một võ công cái thế.

Dương Quá được mệnh danh là một trong những Võ Lâm Ngũ Bá, với biệt danh là Tây Cuồng. (Ảnh: Sohu)

Trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ, Dương Quá đã sáng tạo ra bộ chưởng pháp Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng. Đến cuối truyện Thần Điêu Hiệp Lữ, Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng đã trở thành một tuyệt kỹ võ công vô song, thậm chí còn vượt qua cả Hàng Long Thập Bát Chưởng.

Minh chứng rõ ràng nhất là việc Quách Tĩnh từng thất bại trước Kim Luân Pháp Vương với Thập Tầng Long Tượng Bàn Nhược Công, nhưng Dương Quá lại có thể đánh bại được hắn. Điều này cho thấy võ công của Dương Quá đã đạt đến một cảnh giới vô cùng cao thâm.

Dương Quá cả đời không chính thức thu nhận bất kỳ đệ tử nào. Tuy nhiên, Dương Quá từng gặp gỡ và ấn tượng với một cậu bé tên là Trương Quân Bảo, sau này chính là Trương Tam Phong. Đó là trong phần cuối của Thần Điêu Hiệp Lữ, Trương Tam Phong xuất hiện khi chỉ mới 14 tuổi. Cùng với Giác Viễn đại sư, sư phụ của mình, Trương Tam Phong theo dõi kẻ đã ăn trộm bí kíp Cửu dương thần công của Thiếu Lâm. Trong quá trình truy đuổi, họ gặp nhiều nhân vật nổi tiếng trong giang hồ như Quách Tĩnh cùng Hoàng Dung, Dương Quá và Tiểu Long Nữ, Chu Bá Thông, cũng như Quách Tương - con gái của Quách Tĩnh.

Dương Quá từng gặp gỡ và ấn tượng với một cậu bé tên là Trương Quân Bảo, sau này chính là Trương Tam Phong. (Ảnh: Sohu)

Dù Trương Tam Phong không bái Dương Quá làm sư phụ, nhưng ngay từ lần đầu gặp gỡ, Dương Quá đã nhận ra tố chất võ học phi phàm của cậu bé.

Lúc đó, Trương Tam Phong còn nhỏ tuổi, nhưng nhờ học được Cửu Dương Thần Công nên đã vượt trội hơn hẳn những đứa trẻ cùng trang lứa. Dương Quá rất yêu mến cậu bé và đã chỉ dạy cho Trương Tam Phong ba chiêu võ công.

Cuộc gặp gỡ định mệnh trên đỉnh Hoa Sơn cũng là lần duy nhất hai người gặp nhau. Có thể nói, Trương Tam Phong chính là người đệ tử duy nhất, dù không chính thức, của Dương Quá.

Mối tình đơn phương và hành trình thành lập môn phái hàng đầu

Trên con đường hành tẩu giang hồ, Trương Tam Phong đã gặp được tình yêu của đời mình – Quách Tương. Nhờ sự chỉ điểm của Quách Tương, Trương Tam Phong đã sáng lập ra phái Võ Đang. Tuy nhiên, mối tình đơn phương này lại không có kết thúc viên mãn. Bởi lẽ, trái tim Quách Tương đã trao trọn cho Dương Quá ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Vì tình yêu đơn phương dành cho Dương Quá, Quách Tương đã lập nên phái Nga Mi và sống cuộc đời độc thân cho đến cuối đời.

Trong khi đó, Trương Tam Phong lại tiếp tục con đường võ học của mình, về sau, danh tiếng và võ công của ông đều vượt xa Dương Quá. Nhưng, trớ trêu thay, ông lại yêu người con gái đem lòng yêu sư phụ của mình.

Tình tiết từ bộ truyện Ỷ Thiên Đồ Long Ký có đề cập rằng: "Trương Tam Phong về sau sống trên trăm tuổi, dù trở thành bậc bắc đẩu trên võ lâm nhưng lòng vẫn luôn dành những tình cảm đặc biệt và không bao giờ nguôi nhớ về Quách Tương".

Lý do sáng lập ra Võ Đang phái của Trương Tam Phong khác biệt hoàn toàn với Quách Tương.

Thành tựu võ học của Trương Tam Phong hiển nhiên là vượt xa Dương Quá. (Ảnh: Sohu)

Trương Tam Phong là người sáng tạo ra Thái Cực Kiếm và Thái Cực Quyền. Ông là một người say mê võ học, cả đời cống hiến cho việc nghiên cứu và phát triển võ thuật. Thành tựu võ học của Trương Tam Phong có lẽ có thể sánh kịp Đạt Ma Tổ Sư, hiển nhiên là hơn hẳn Dương Quá.

Mối liên kết giữa Dương Quá và Trương Tam Phong, mặc dù không kéo dài, đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong đời của tổ sư phái Võ Đang. Chính những sự kiện này đã mở ra một chương mới trong đời Trương Tam Phong, dẫn ông tới những thành công lừng lẫy trong lĩnh vực võ lâm.

Những tình huống gặp gỡ không ngờ như giữa Dương Quá và Trương Tam Phong cho thấy các mối quan hệ không ngờ có thể đem lại những bất ngờ, những biến chuyển mạnh mẽ và bền vững trong đời sống con người. Các cuộc gặp như vậy không chỉ giúp ta học hỏi, phát triển mà còn mở ra cơ hội mới, xây đắp mối quan hệ đầy ý nghĩa và giúp ta khám phá chính mình.

Nguyệt Phạm

15/05/2026

Vợ ba của bố bằng tuổi tôi

    

Hình minh họa

Mẹ kể với tôi là họ tan vỡ năm tôi lên 2. Khi ấy còn nhỏ quá nên tôi gần như chẳng có ký ức gì. Chỉ có vài mảnh trí nhớ vụn vặt về chuyện bố lái xe tới trường mẫu giáo đón lúc tan học, sau đó bố cho tôi ra phố Tràng Tiền ăn kem, cùng tôi chạy nhảy đi dạo bên bờ hồ.

Tôi càng lớn thì càng ít gặp bố hơn. Bởi vì ông đã có gia đình đứa trẻ còn bé xíu hơn tôi. Thi thoảng bố nhắn tin hỏi thăm xem tình hình học tập thế nào, cho tôi ít tiền tiêu vặt, còn lại thì chẳng có gì đặc biệt.

Bù lại tôi được mẹ và gia đình bên ngoại quan tâm rất nhiều. Tôi cũng bận đi học đi làm, lo lắng đủ thứ cho bản thân nên chẳng có thời gian suy nghĩ lung tung. Dù gì tôi vẫn ngưỡng mộ bố, bởi ông là người đa tài, giỏi giang và có sự nghiệp riêng thành công đáng nể. Năm xưa bố mẹ chia tay cũng vì không có tình cảm gắn bó, chứ bố chẳng phản bội gì mẹ nên tôi không có lý do gì để ghét ông ấy.

Bố không đến mức bỏ mặc tôi nhưng chuyện gần gũi thân thiết với con gái đầu lòng thì khá hiếm. Bố tôi dùng tiền để giải quyết mọi thứ, ông nghĩ là đem tiền mua hạnh phúc thì tôi sẽ ổn. Hồi bé tôi cũng hay tủi thân vì thiếu vắng bàn tay chăm sóc của bố, ghen tị với bạn bè khi chúng có gia đình đủ đầy. Nhưng giờ trưởng thành rồi tôi thấy chẳng quan trọng nữa. Cuộc sống của tôi với mẹ vẫn rất tốt, thoải mái tự do và chẳng thiếu thốn gì.

 Thi thoảng bố hẹn đi ăn thì tôi vẫn vui vẻ tới gặp. 2 bố con trò chuyện linh tinh, tôi cũng tò mò hỏi dăm ba câu về gia đình riêng của ông ấy. Tuy nhiên thái độ của bố có vẻ không vui. Ông thở dài không nói gì mấy, chỉ bảo hôn nhân lần 2 không suôn sẻ như ông hi vọng. 2 đứa em cùng cha khác mẹ tôi cũng đã nhìn thấy trên Facebook của bố. Ông chẳng bao giờ đăng hình vợ 2, nhưng con cái thì có, chứng minh bản thân là một người bố tử tế có trách nhiệm.

Rồi chuyện gì tới cũng tới. Đùng cái tuần trước khi tôi đang đi du lịch với bạn trai thì bố nhắn tin. Ông gửi cho tôi bức ảnh tấm thiệp cưới, cùng vỏn vẹn mỗi câu:

“Đầu tháng 11 bố lấy vợ”.

Thật sự tôi vẫn có chút bất ngờ khi bố thông báo tin chuẩn bị cưới vợ ba. Tính ra thì tôi không biết ông cưới vợ 2 lúc nào, nhưng 2 đứa con trai riêng của ông cũng 14-15 tuổi rồi, nghĩa là ông tái hôn sau khi bỏ mẹ tôi không lâu.

Giờ bố tôi gần 50 tuổi rồi, vậy mà ông vẫn miệt mài đi tìm hạnh phúc mới. Lần gần nhất bố nhắc đến vợ 2 trước mặt tôi mới chỉ vài tháng trước chứ đâu. Không rõ ông quen vợ thứ 3 lúc nào mà quyết định kết hôn nhanh thế?

Tôi hỏi ý kiến mẹ thì bà bảo con cứ đến dự đám cưới của bố đi. 2 bố con chẳng có mâu thuẫn gì với nhau, đến ăn mừng một lát cũng không phải việc gì ghê gớm. Dĩ nhiên là bố không mời mẹ, nhưng tôi là con gái lớn thì đến dự cho phải phép.

Tôi chuẩn bị váy áo đơn giản nhẹ nhàng để tới đăm cưới bố vào sáng nay. Trông ông vẫn phong độ lịch lãm, không hổ danh thần tượng từ nhỏ của tôi. Thấy tôi xuất hiện thì bố vui lắm. Ông giới thiệu cô dâu mới với tôi, khoảnh khắc ấy tôi muốn đông cứng lại khi nhận ra người phụ nữ ấy chính là… sếp của tôi!

Vì không thân thiết trên công ty nên chuyện đời tư của sếp tôi không hề hay biết. Ai ngờ cô ấy lại trở thành mẹ kế thứ hai của tôi! Đã thế mẹ kế còn bằng tuổi tôi nữa. Chả hiểu bố nghĩ gì mà thích một người phụ nữ bằng tuổi con gái mình?!?

Khoảnh khắc phát hiện ra thân phận của tôi xong sếp cũng bối rối. Cô ấy không ngờ tôi lại là con gái lớn của chồng tương lai. Xấu hổ nên cô ấy kiếm cớ đi chào hỏi khách ở chỗ khác, thái độ lúng túng khác hẳn với những lúc quát nạt tôi ở văn phòng.

Ngồi trong bữa tiệc mà tôi chẳng nuốt được miếng nào. Có quá nhiều điều tôi muốn thắc mắc với bố, đặc biệt là lý do ông chọn tái hôn thêm lần nữa với một cô gái trẻ. Họ đến với nhau vì tình cảm đơn thuần hay vì điều gì khác? Nghe quan khách xung quanh xì xào bàn tán về khoảng cách tuổi tác và chênh lệch ngoại hình giữa cô dâu với chú rể mà tôi thấy ngại thay bố mình.

Chẳng lẽ ông là một người có tham vọng tầm thường như người ta nói? Nếu đúng là vợ ba lấy bố vì tiền, còn ông thích gái trẻ, thì tôi thực sự thất vọng quá rồi…

Tiểu Ngạn

(Thời nay chuyện này có cũng nhiều, nếu có tình yêu thật tình thì tốt. ‘Chồng già vợ trẻ là tiên’. Người xưa quan niệm đàn ông lớn tuổi có sự nghiệp, kinh tế ổn định, biết nhường nhịn, che chở, giúp người vợ trẻ có cuộc sống an nhàn.)

 

13/05/2026

Loài vật có chân dài nhất thế giới vừa bị các nhà khoa học làm lùn đi một nửa

 Maci Currin, một cô gái 18 tuổi người Mỹ hiện đang giữ kỷ lục người có đôi chân dài nhất thế giới. Currin cao 2,08 mét và có chân dài hơn 135 cm (tương đương 60% chiều cao cơ thể).

Nhưng dù gì, con người cũng không thể nào cạnh tranh nổi với những loài động vật chân đốt trong việc so sánh tỷ lệ chiều dài chân với kích thước cơ thể. Trong thế giới động vật, nhắc đến chân dài là chúng ta phải nhắc đến loài Phalangium opilio hay nhện ba ba chân dài (daddy long-legs arachnid).

Nhện ba ba chân dài.

Những con vật này có thể sở hữu 4 cặp chân dài gấp 10 lần thân người, biến nó trở thành nhà vô địch chân dài trong thế giới động vật. Độ dài của 8 chi đem đến lợi thế lớn cho nhện ba ba trong những chuyến đi săn.

Thức ăn của chúng thường là sâu bệnh lây nhiễm đậu tương, một lí do khiến loài nhện này được ví như người bạn của nhà nông. Ngoài ra, những cặp chân quá khổ của chúng cũng được nhiều nhà làm phim lấy làm nguyên mẫu cho các sinh vật ngoài hành tinh của họ.

Nhện ba ba được các nhà làm phim lấy làm nguyên mẫu cho các sinh vật ngoài hành tinh.

Thế nhưng, đó là trước khi nhện ba ba chân dài gặp phải các nhà di truyền học tại Đại học Wisconsin, Hoa Kỳ. Trong một nghiên cứu, họ đã bắt một vài con nhện này, chỉnh sửa gene để khiến chúng bị lùn đi mất một nửa.

Công việc được thực hiện bằng cách theo dõi phôi của những con nhện ba ba chân dài con. Các nhà  khoa học nhận thấy có 3 gene hoạt động giúp chân của phôi nhện dài ra dưới kính hiển vi.Khoa học

Bằng một kỹ thuật chỉnh sửa gene được gọi là can thiệp RNA, họ đã tắt thành công 3 gene này, khiến chân của những con nhện ngắn lại chỉ còn một nửa. Một số chân của chúng thậm chí còn ngắn đến nỗi biến thành pedipalp, hay các chi nhỏ gần miệng chỉ dùng để cầm nắm thức ăn.

Nhưng tại sao các nhà khoa học lại làm vậy?

 

Kỹ thuật chỉnh sửa gene giúp quan sát lại quá trình tiến hóa của loài này.

Guilherme Gainett, tác giả chính của nghiên cứu, đồng thời là một nhà di truyền học tại Đại học Wisconsin cho biết: Sự hiệu quả của kỹ thuật can thiệp RNA vào loài Phalangium opilio cho phép họ có thể quan sát lại quá trình tiến hóa của loài này.

"Bộ gene của nhện ba ba chân dài có tiềm năng to lớn giúp làm sáng tỏ lịch sử phức tạp của quá trình tiến hóa, cách loài nhện này phát triển các đặc điểm cơ thể của chúng cũng như có được những đôi chân dài độc đáo", Gainett viết.

Trong tương lai, kỹ thuật tương tự có thể được sử dụng để tìm hiểu các loài sinh vật khác đã phát triển được các bộ phận cơ thể như thế nào? Chẳng hạn như tại sao bọ cạp lại biến hai chi trước của nó thành những chiếc càng khổng lồ?

Các nhà khoa học cũng có thể tạo ra những con bọ cạp không càng hoặc có càng nhỏ nhờ kỹ thuật can thiệp RNA.


Những con Phalangium opilio thì chỉ có thân người với một đoạn hình bầu dục.

Trên thực tế, Phalangium opilio không thực sự là một loài nhện mà có họ hàng gần hơn với bọ cạp. Một vài đặc điểm giúp phân biệt Phalangium opilio với nhện là chúng không thể nhả tơ và cũng không có tuyến độc.

Nhện thì thường chia cơ thể chúng thành hai phần, nhưng những con Phalangium opilio thì chỉ có thân người với một đoạn hình bầu dục.

Trong bước nghiên cứu tiếp theo, Gainett và các cộng sự muốn tìm hiểu liệu các loài nhện có tiến hóa giống với con đường của Phalangium opilio hay không. Liệu từng nhóm động vật chân đốt có sự khác biệt nào trong những gene làm dài chân này?

"Nhìn về phía trước, mối quan tâm tiếp theo của chúng tôi là tìm hiểu cách bộ gene tạo ra được các đặc điểm bên ngoài của loài nhện, chẳng hạn như nanh nhện và bọ cạp. Chúng tôi cũng muốn tận dụng kỹ thuật gene để phát triển thêm những sinh vật chuyển gene đầu tiên", Gainett nói.

Nghiên cứu của họ đã được công bố trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B: Biological  Sciences.

Sưu tầm

12/05/2026

Ai Ra Đời Lâu Rồi Thì Mới Hiểu Hết Được


 1. Xã hội này giữa người với người đừng nên nhìn mặt đoán lòng. Họ cười họ nói một đằng nhưng trong tâm họ lại nghĩ một kiểu.

Hoá ra thứ lạnh lẽo nhất trên đời này chính là lòng người...

2. Chẳng bao giờ người ta cần có lý do để ghét bỏ ai đó. Yêu hay ghét nó là cảm giác của mỗi người, mà con người luôn là tạo vật đầy rẫy mâu thuẫn, thế nên, đừng dằn vặt mình vì: "Sao nó ghét mình?", "Mình đã làm gì nó đâu?" có bới móc tìm ra lý do biện minh cho việc yêu quý hay hờn ghét, nói thật là chẳng để làm gì. Nó ghét vì nó thích thế. Đơn giản vậy thôi!

3. Lời đồn xuất phát từ những kẻ hay ghét người khác. Lan truyền bởi những kẻ dại khờ và được chấp nhận bởi những kẻ ngu ngốc

4. Cuộc đời này ngắn lắm, chớp mắt trôi qua đã hết nửa quãng thanh xuân. Trong cái lúc tuổi xanh vùn vụt chạy qua như chuyến tàu tốc hành, còn bao nhiêu chuyện khác phải lo để tồn tại, cớ gì phải vơ hết chuyện thiên hạ về mình cho mệt?

5. Càng ngày tôi càng thấy sợ một số người xung quanh mình. Họ diễn hay quá và hạ màn cũng thật bất ngờ.

6. Người đời không nuôi bạn lớn ngày nào. Lúc bạn đau khổ, họ cũng không ở cạnh lo cho bạn, vỗ về nỗi đau của bạn. Lúc bạn vui, họ lại càng không quan tâm, chưa kể còn có phần ganh ghét. Thế thì việc gì phải bận tâm lo sợ đám đông người đời đánh giá cuộc đời bạn thế nào?

7. Không sợ chậm, chỉ sợ dừng. Những người dẫn đầu ở điểm xuất phát, chưa chắc sẽ là người về đích sớm nhất. Những người bị tụt lại ở điểm xuất phát, chưa chắc sẽ là người mãi mãi về sau. (Vãn Tình) Không hiểu thì đọc ngay: https://bit.ly/khongsocham_tiki

 8. Miệng lưỡi người nào ai quản nổi? Họ nói những gì họ thích và làm những điều họ muốn chẳng bao giờ quan tâm tới những tàn nhẫn của "thú vui" ấy. Rồi nạn nhân sẽ sống thế nào đây?

9. Làm sao để nhận biết được một con người qua vẻ bề ngoài. Hoa hồng đẹp thế mà còn có gai đấy thôi! Con người cũng vậy…càng vẻ mặt từ bi bao nhiêu có khi trong lòng lại càng nham hiểm bấy nhiêu…Tất nhiên cũng có những người tuyệt vời cả về hình thức lẫn tâm hồn.

10. Bạn có sống tốt thế nào cũng có người ghét. Cho nên mình cứ sống vui, sống khỏe đừng đánh mất sự lương thiện, tốt bụng trong mình là được! Ừ lương thiện thì thiệt thân, nhưng tôi cứ sống cho tốt cái bụng mình thì chẳng bao giờ phải hổ thẹn với đời.

Sưu tầm

05/05/2026

Nguyên Sa & Thúy Nga

Thi sĩ Nguyên Sa và phu nhân trong Vườn Luxembourg, Paris, 1954.

Cả đời thi sĩ Nguyên Sa chỉ yêu một người đàn bà, và gần như cả đời thơ ông cũng đi ra từ mối tình ấy.

Trong văn chương Việt Nam, có những nhà thơ đi qua rất nhiều bóng hồng để làm nên thi tứ. Nhưng cũng có những người chỉ có một mối tình duy nhất, một người đàn bà duy nhất, mà vẫn đủ để viết nên cả một đời thơ. Nguyên Sa là một người như vậy.

Người phụ nữ ấy là Trịnh Thúy Nga. Bà không chỉ là vợ của ông, mà còn là người bước vào đời ông từ những năm tuổi trẻ nơi đất Pháp, đi cùng ông qua những tháng ngày học trò, qua hôn nhân, qua những chặng đời tha hương, cho đến tận khi ông rời cõi tạm. Với Nguyên Sa, tình yêu ấy không phải một đoạn ngắn trong đời, mà gần như là dòng chảy xuyên suốt cả cuộc đời mình.

Mối duyên ấy bắt đầu từ Paris đầu thập niên 1950. Khi ấy, Trịnh Thúy Nga được gia đình cho sang Pháp du học. Nguyên Sa, tên thật là Trần Bích Lan, đã sang trước đó hai năm. Qua một người quen trong gia đình, họ gặp nhau, rồi dần dần thân thiết. Ban đầu chỉ là những cuộc gặp gỡ của tuổi trẻ nơi đất khách, nhưng chẳng bao lâu sau, từ phía chàng trai ấy, tình cảm đã lớn dần thành một điều rất rõ ràng.

Mùa hè năm 1953, sau khi vừa đỗ tú tài, Nguyên Sa quyết định tỏ tình với Thúy Nga. Điều đặc biệt là ông không nói bằng những lời thông thường, mà bằng một bài thơ tình. Theo lời bà Thúy Nga kể lại, đó gần như là bài thơ đầu tiên trong cuộc đời ông. Riêng bài thơ ấy, bà giữ lại cho riêng mình, không công bố, như thể muốn giữ nguyên vẹn cho mình khoảnh khắc đầu tiên khi một chàng trai trẻ dùng thơ để bước vào trái tim mình.

Nhưng cũng ngay trong năm ấy, một biến cố lớn ập đến. Thân sinh của Nguyên Sa qua đời ở Hà Nội. Ông buộc phải ngưng việc học, trở về nước để gánh vác gia đình. Trong lúc tình yêu vừa chớm nở, chia ly đã đến rất nhanh. Ông muốn người yêu về cùng, nhưng Thúy Nga khi ấy vẫn còn ước mơ học hành dang dở, vẫn muốn ở lại Pháp để đi tiếp con đường của mình. Thế là họ phải tạm xa nhau.

Chính từ cuộc chia tay ấy, Nguyên Sa đã viết nên những câu thơ đầy nhớ thương sau này trở thành rất nổi tiếng:

Paris có gì lạ không em

Mai anh về em có còn ngoan…

Những câu thơ ấy về sau được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thành ca khúc Paris có gì lạ không em, trở thành một trong những bài hát quen thuộc nhất của nhạc Việt. Nhưng phía sau ca khúc nổi tiếng ấy, thực ra lại là nỗi bịn rịn rất thật của một chàng trai phải rời xa người mình yêu.

Trong số những bài thơ Nguyên Sa viết cho Thúy Nga, có lẽ đặc biệt nhất là bài thơ chỉ mang đúng một chữ làm nhan đề: Nga. Đó không chỉ là một bài thơ tình, mà còn là bài thơ báo hỷ in trên thiệp cưới của hai người vào ngày 17/12/1955 tại Paris. Đọc lại những câu thơ ấy, người ta vẫn thấy rõ một Nguyên Sa vừa hóm hỉnh, vừa say đắm, vừa trẻ trung mà cũng rất quyết liệt trong tình yêu:

Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau…

Đó là thứ tình yêu không màu mè, không kịch tính kiểu tiểu thuyết, nhưng lại có một sức bền rất hiếm. Họ cưới nhau trong cảnh sinh viên nghèo, không nhẫn cưới, không xe hoa, không tiệc cưới rình rang. Chỉ là ký giấy hôn thú xong rồi cùng bạn bè ra quán cà phê uống nước, ăn bánh, bạn bè góp tiền trả giúp cho cô dâu chú rể. Một đám cưới giản dị đến mức gần như không có gì để khoe, nhưng lại mở đầu cho một cuộc hôn nhân kéo dài hơn bốn mươi năm, thủy chung cho đến cuối đời.

Sau đó, hai người cùng về Việt Nam. Từ Paris trở về Sài Gòn năm 1956, họ bước vào một giai đoạn mới. Cả hai cùng đi dạy, cùng làm giáo sư, rồi cùng mở trường Văn Học và Văn Khôi. Nhiều thế hệ học sinh Sài Gòn năm xưa vẫn còn nhớ hình ảnh đôi vợ chồng giáo sư Trần Bích Lan – Trịnh Thúy Nga vừa trí thức, vừa gần gũi, cùng nhau dìu dắt học trò trong một thời rất đẹp của đời sống đô thị miền Nam.

Rồi thời cuộc lại đổi thay. Năm 1975, họ rời Sài Gòn, quay lại Paris, sau đó sang Mỹ năm 1978. Bao nhiêu dâu bể của một thời đại, bao nhiêu đổi thay của lịch sử, họ vẫn đi cùng nhau. Có lẽ điều làm người ta cảm động nhất ở mối tình này không phải là nó bắt đầu bằng thơ, mà là nó đủ bền để đi qua gần nửa thế kỷ, qua chiến tranh, qua ly hương, qua bệnh tật, qua mọi thăng trầm mà vẫn không rời nhau.

Những năm cuối đời, khi bệnh tật đã ở rất gần, Nguyên Sa vẫn viết những câu thơ đầy xúc động như một lời dặn dò, một lời thủ thỉ với người vợ đã đi cùng mình suốt đời. Trong những câu thơ ấy, ông nhắc đến Sài Gòn, nước Mỹ, miền Nam nước Pháp, những nơi hai người từng sống qua, từng bước qua. Nhưng sau tất cả, điều ông nhớ nhất vẫn là những mảnh đất đầu đời, nơi có tuổi trẻ, có tình yêu đầu tiên, có những ngày cùng nhau đi học. Điều ấy cho thấy, có những mối tình càng đi xa, càng đi lâu, rốt cuộc lại càng quay về nơi khởi đầu.

Ngày 18/4/1998, thi sĩ Nguyên Sa rời cõi tạm. Ông ra đi bên người vợ mang tên Nga, người đã ở cạnh ông từ thuở còn rất trẻ cho đến phút cuối cùng. Sau khi ông mất, chính bà là người chọn ngôi mộ cho ông, một nơi gần hồ nước, dưới bóng cây mát. Trên bia mộ, bài thơ Sợi tóc của ông được khắc lại như một lời gửi gắm cho ngàn kiếp sau.

Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở bia mộ, mà nằm ở người còn ở lại. Sau khi Nguyên Sa rời đi, bà Thúy Nga vẫn lặng lẽ ra thăm mộ ông, chăm hoa, cắt cỏ, chuyện trò với ông như thể sự chia xa ấy chưa bao giờ cắt đứt được mối gắn bó giữa hai người. Bà cũng chính là người gìn giữ, thu gom, in lại những tác phẩm thơ ca, truyện, sách và hồi ký của ông, như một cách tiếp tục nâng niu phần đời tinh thần mà chồng mình để lại.

Nhìn lại cuộc đời Nguyên Sa, người ta thấy thơ ông đẹp, tình ông cũng đẹp. Nhưng có lẽ điều khiến người ta nhớ lâu nhất không chỉ là những câu thơ nổi tiếng, mà là sự thật rất hiếm hoi này: giữa một đời dài, ông chỉ có một mối tình duy nhất, và mối tình ấy đủ lớn để nuôi sống thơ ông, đủ bền để đi cùng ông đến tận cuối đời.

Có những thi sĩ nổi tiếng vì đa tình. Còn Nguyên Sa, có lẽ lại khiến người ta cảm động hơn bởi sự thủy chung.

Và biết đâu, chính vì chỉ yêu một người suốt đời, nên thơ ông mới đẹp đến vậy.

Sưu tầm