Trang

12/05/2026

Ai Ra Đời Lâu Rồi Thì Mới Hiểu Hết Được


 1. Xã hội này giữa người với người đừng nên nhìn mặt đoán lòng. Họ cười họ nói một đằng nhưng trong tâm họ lại nghĩ một kiểu.

Hoá ra thứ lạnh lẽo nhất trên đời này chính là lòng người...

2. Chẳng bao giờ người ta cần có lý do để ghét bỏ ai đó. Yêu hay ghét nó là cảm giác của mỗi người, mà con người luôn là tạo vật đầy rẫy mâu thuẫn, thế nên, đừng dằn vặt mình vì: "Sao nó ghét mình?", "Mình đã làm gì nó đâu?" có bới móc tìm ra lý do biện minh cho việc yêu quý hay hờn ghét, nói thật là chẳng để làm gì. Nó ghét vì nó thích thế. Đơn giản vậy thôi!

3. Lời đồn xuất phát từ những kẻ hay ghét người khác. Lan truyền bởi những kẻ dại khờ và được chấp nhận bởi những kẻ ngu ngốc

4. Cuộc đời này ngắn lắm, chớp mắt trôi qua đã hết nửa quãng thanh xuân. Trong cái lúc tuổi xanh vùn vụt chạy qua như chuyến tàu tốc hành, còn bao nhiêu chuyện khác phải lo để tồn tại, cớ gì phải vơ hết chuyện thiên hạ về mình cho mệt?

5. Càng ngày tôi càng thấy sợ một số người xung quanh mình. Họ diễn hay quá và hạ màn cũng thật bất ngờ.

6. Người đời không nuôi bạn lớn ngày nào. Lúc bạn đau khổ, họ cũng không ở cạnh lo cho bạn, vỗ về nỗi đau của bạn. Lúc bạn vui, họ lại càng không quan tâm, chưa kể còn có phần ganh ghét. Thế thì việc gì phải bận tâm lo sợ đám đông người đời đánh giá cuộc đời bạn thế nào?

7. Không sợ chậm, chỉ sợ dừng. Những người dẫn đầu ở điểm xuất phát, chưa chắc sẽ là người về đích sớm nhất. Những người bị tụt lại ở điểm xuất phát, chưa chắc sẽ là người mãi mãi về sau. (Vãn Tình) Không hiểu thì đọc ngay: https://bit.ly/khongsocham_tiki

 8. Miệng lưỡi người nào ai quản nổi? Họ nói những gì họ thích và làm những điều họ muốn chẳng bao giờ quan tâm tới những tàn nhẫn của "thú vui" ấy. Rồi nạn nhân sẽ sống thế nào đây?

9. Làm sao để nhận biết được một con người qua vẻ bề ngoài. Hoa hồng đẹp thế mà còn có gai đấy thôi! Con người cũng vậy…càng vẻ mặt từ bi bao nhiêu có khi trong lòng lại càng nham hiểm bấy nhiêu…Tất nhiên cũng có những người tuyệt vời cả về hình thức lẫn tâm hồn.

10. Bạn có sống tốt thế nào cũng có người ghét. Cho nên mình cứ sống vui, sống khỏe đừng đánh mất sự lương thiện, tốt bụng trong mình là được! Ừ lương thiện thì thiệt thân, nhưng tôi cứ sống cho tốt cái bụng mình thì chẳng bao giờ phải hổ thẹn với đời.

Sưu tầm

10/05/2026

Phở có từ bao giờ?

Bây giờ phở không những đã là món ăn phổ biến khắp cả nước mà còn được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới. Cái ngon, cái hay của nó thì khỏi phải bàn, nhưng chuyện nó có từ bao giờ, ra đời như thế nào thì vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tôi xin đưa ra một tư liệu để bạn đọc tham khảo.

Hồi năm 2000 gia đình tôi vẫn ở Nam Định, thi thoảng tôi vẫn đến ăn ở hiệu phở Đồng Nguyên. Ông chủ hiệu tên là Cồ Văn Minh trước đây làm ở Công Ty Ăn Uống TP Nam Định, đến lúc về hưu mới mở hàng này để có thêm tiền thu nhập nhưng cái chính là để lập nghiệp cho một người con trai.

Tôi hỏi ông chắc là người Dao Cù. Ông bảo ông người Vân Cù. Vân Cù và Dao Cù là hai thôn liền nhau, cùng một xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực. Tôi tra từ điển Hán Việt thì được biết “cù” có nghĩa là con đường thông bốn ngả (ngã tư). Con đường làm quan thì gọi là vân cù (đường mây). Còn “dao” là một thứ ngọc đẹp, dao cù có nghĩa là con đường đẹp. Dân vùng ấy, nói chung là dân mấy huyện miền nam tỉnh Nam Định, phát âm rất nặng âm r và thường lẫn lộn giữa r và d cho nên hồi xưa người ta thường viết là Rao Cù, không đúng, nhưng bây giờ tất cả đều viết là Giao Cù, cũng không đúng. Lịch sử vẫn nhắc đến tên “ông nghè Dao Cù’, đó là tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, người tổ chức nghĩa quân chống Pháp sau khi Pháp chiếm thành Nam Định năm 1883 và đã anh dũng hy sinh. Người mang họ Cồ là dân làng Vân Cù, mang họ Vũ mới là người Dao Cù. Ông chủ hiệu Quảng Nguyên, một nhà hàng cao lâu rất nổi tiếng của Nam Định thời Pháp thuộc, tương tự như Phú Gia của Hà Nội, là một người họ Vũ ở thôn Dao Cù. Tôi hỏi ông liệu có liên quan gì với họ Cồ của ông và những cái tên làng Vân Cù, Dao Cù? Tôi chưa nghe thấy ở đâu khác có người mang họ Cồ, chỉ nghe thấy họ Cù như ông Cù Huy Cận, bà Cù Thị Hậu… Liệu họ Cù với họ Cồ có phải là một như họ Vũ với họ Võ không? Ông bảo không biết.

Ông Minh sinh năm Quý Dậu (1933) là người con thứ mười ba trong gia đình. Bố ông có ba vợ, ông là con bà ba, khi sinh ra ông thì bố ông đã sáu mươi mốt tuổi. Theo ông cụ nói, khi ông cụ được sinh ra thì phở đã có hai ba chục năm rồi. Theo đó mà tính ngược thời gian thì phở bắt đầu có vào khoảng những năm 1840-1850. Ấy là phở có ở Nam Định thôi, ở nơi khác thì có thể có sớm hơn.

Chợ Rồng Nam Định đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu.

Có một sự liên quan giữa phố và phở. Phải có phố mới có phở, mà dường như bây giờ hễ nơi nào có phố thì nơi ấy có phở mọc ra theo.

 


Thành Nam Định được xây vào đầu thời vua Gia Long (1804) đến thời Minh Mạng (1833) thì được xây lại bằng gạch. Cũng dưới thời Minh Mạng (1831) trấn Nam Định được đổi thành tỉnh Nam Định. Thành tỉnh là nơi thiết lập bộ máy hành chính của địa phương, đi cùng với nó là một đội quân đông đúc để bảo vệ. Có thành là có phố. Phố ở sát bên cạnh thành, đi liền với thành nhưng người ta chỉ gọi chung là thành (citadelle). Năm 1883 Pháp đánh chiếm thành Nam Định. Mười một năm sau, cô Tư Hồng sau khi đã phá dỡ xong thành Hà Nội lại đem đội nhân công ấy xuống phá dỡ nốt thành Nam Định. (Tư Hồng là một nhân vật thầu khoán nổi tiếng thời Pháp  đã trúng thầu phá dỡ thành Nam Định).


Thành Nam Định không còn, chỉ còn có phố, thành xưa hóa ra phố, bấy giờ người ta mới gọi là thành phố (ville). Để giảm bớt vị thế của kinh thành Thăng Long xưa, nhà Nguyễn cho đặt Bắc thành (thành Hà Nội) vào trong địa phận của tỉnh Hà Nội rộng lớn kéo dài xuống tận mấy huyện của tỉnh Hà Nam, gần giáp với thành phố Nam Định ngày nay. Đầu đời vua Đồng Khánh (1885) trường thi Hà Nội bị xóa bỏ, từ đấy sĩ tử của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ đều dồn về thành phố Nam Định để thi. Có lẽ các phố phường của Nam Định phát triển mạnh mẽ nhất trong thời gian này. Có lẽ sau Hà Nội, không đâu có nhiều đường phố mang tên hàng nọ hàng kia như ở Nam Định: Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Nâu, Hàng Tiện, Hàng Cấp, Hàng Cau, Hàng Cót…

Có người nói phở bắt nguồn từ món bún sáo trâu. Lại có người suy ra từ canh bánh đa. Canh bánh đa thường nấu với cá rô hoặc cua đồng; nấu với thịt bò thì thành phở. Nhưng nhiều người khẳng định từ một món ăn của người Hoa là ngưu nhục phấn. Ông Minh bảo đúng thế, các cụ nhà ta xưa chỉ có bún, miến chứ không có phở.


Người Hoa có mặt ở Nam Định từ rất lâu nhưng đông đúc hẳn lên có lẽ cũng chỉ khi bắt đầu xây thành, Pháp chiếm rồi phá thành. Quả chuông của Hội quán Quảng Đông (phố Khách- Nam Định) được đúc vào năm 1834. Người Hoa sống tập trung chủ yếu ở phố Khách (nay là phố Hoàng Văn Thụ), đa số là người Quảng Đông, và ở phố Hàng Sắt dưới, nơi có đền Triều Châu (Sìu Châu) đa số là người Triều Châu, Phúc Kiến. Có người còn nhớ là hồi trước năm 1954 ở phố Hàng Sắt dưới có hàng phở của một người Hoa bán rất đông khách, phở thịt bò hầm nhừ. Hồi sau “Giải Phóng” tôi vào Sài Gòn nhiều khi cũng thích ăn hủ tiếu bò kho. Món này thường do người Hoa làm. Những tiếng như gầu, bạc nạm (hay nàm) cũng là theo cách phát âm của người Hoa.

Theo ông Minh, tất nhiên là do cha ông kể lại, phở của người Hoa bánh tráng dầy, thái to, ăn cứng; nước sánh và béo. Các cụ ngày xưa làm phở khó nhất là tráng bánh. Bánh phải thật mỏng, sợi phải thật mềm, mướt. Thời ấy đun bằng củi chứ chưa có than như bây giờ, khó giữ được đều lửa nên hay hỏng bánh, có khi mười mẻ hỏng đến ba bốn, bánh hỏng các cụ bảo rằng đó là do ma vầy. Thường là tráng bánh về đêm, khoảng tám, chín giờ tối đến bốn, năm giờ sáng hôm sau, trước khi tráng bánh các cụ phải thắp hương cắm vào các gốc cây quanh nhà, khấn xin các loại ma đừng làm hỏng bánh.

Món ngưu nhục phấn ở nhà hàng Grand Mercure Hanoi hoàn toàn không giống phở.

Làng Dao Cù nằm bên con sông Đào cách thành phố Nam Định chừng mười lăm kilômét, nếu bây giờ đi tới đó thì theo đường 55, chợ Dao Cù nằm ở ngay bên đường, đi tiếp nữa là tới huyện Nghĩa Hưng. Không hiểu vì lý do gì ngày xưa ở vùng này có nhiều người đi làm thuê cho các hiệu ăn của người Hoa, từ đó có nhiều người nấu ăn giỏi và mở hàng ăn. Người ta bảo ở phố Tạ Hiện (Hà Nội) có hồi mười người làm hàng ăn thì có đến sáu bảy người là dân Dao Cù. Gọi là Dao Cù nhưng thực ra không phải chỉ là dân làng Dao Cù mà còn cả Vân Cù và Lộng Điền nữa. Làng Lộng Điền cũng nằm cạnh đấy nhưng lại thuộc huyện Nghĩa Hưng. Một số hàng “phở gia truyền Nam Định” mở ở Hà Nội bây giờ hay trương cái tên họ Cồ có lẽ chính vì sự độc đáo ít lẫn vào đâu được, không mấy ai trương biển họ Vũ hay một họ nào khác. Vào khoảng những năm 1980 hai hiệu phở có tiếng nhất ở Nam Định là của ông Đán gầy và của ông Đán béo. Ông Đán béo, người đã dạy cho tôi những bài học vỡ lòng về phở là người Lộng Điền. Người ta cũng bảo ông Ngô Gia Khê, đầu bếp của khách sạn Phú Gia, nghệ nhân nấu ăn, được phong tước hiệu của Pháp, cũng là người Lộng Điền.

 Từ một món ăn của người Hoa, qua tư duy ẩm thực của những người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, được nuôi dưỡng trong một môi trường phố thị, phở ngày càng phát triển và đi vào lòng mọi tầng lớp nhân dân. Ba năm một kỳ thi, vào mỗi dịp ấy hàng vạn sĩ tử từ Hà Nội và các tỉnh kéo về cái thành phố Nam Định khi ấy còn nhỏ bé, dân cư thưa thớt. Có thể những anh chàng khóa sinh ấy là những người hưởng ứng món phở tích cực hơn ai hết và định hướng cho nó, sau đó mới đến các tầng lớp thợ thuyền và công chức.

 Có thể phở cũng được hình thành ở Hà Nội và một vài nơi khác nữa vào khoảng thời gian và cách thức tương tự nhưng có lẽ nó chỉ thực sự thành danh là nhờ ba sáu phố phường Hà Nội. Ăn phở ở ngay phố chợ Dao Cù cũng chả ngon. Thợ nấu phở dù là quê quán ở đâu cũng đều muốn về Hà Nội để thi thố tài năng và lẽ dĩ nhiên phải đạt được chuẩn mực và sở thích của người Hà Nội. Chính vì thế mà hễ nói đến phở là người ta nghĩ ngay đến Hà Nội và khi nói đến ẩm thực Hà Nội không thể nào không nhắc đến phở. Phở đi vào văn chương cũng bắt đầu từ các nhà văn của Hà Nội như Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân…

 Đặng Hồng Nam 

05/05/2026

Nguyên Sa & Thúy Nga

Thi sĩ Nguyên Sa và phu nhân trong Vườn Luxembourg, Paris, 1954.

Cả đời thi sĩ Nguyên Sa chỉ yêu một người đàn bà, và gần như cả đời thơ ông cũng đi ra từ mối tình ấy.

Trong văn chương Việt Nam, có những nhà thơ đi qua rất nhiều bóng hồng để làm nên thi tứ. Nhưng cũng có những người chỉ có một mối tình duy nhất, một người đàn bà duy nhất, mà vẫn đủ để viết nên cả một đời thơ. Nguyên Sa là một người như vậy.

Người phụ nữ ấy là Trịnh Thúy Nga. Bà không chỉ là vợ của ông, mà còn là người bước vào đời ông từ những năm tuổi trẻ nơi đất Pháp, đi cùng ông qua những tháng ngày học trò, qua hôn nhân, qua những chặng đời tha hương, cho đến tận khi ông rời cõi tạm. Với Nguyên Sa, tình yêu ấy không phải một đoạn ngắn trong đời, mà gần như là dòng chảy xuyên suốt cả cuộc đời mình.

Mối duyên ấy bắt đầu từ Paris đầu thập niên 1950. Khi ấy, Trịnh Thúy Nga được gia đình cho sang Pháp du học. Nguyên Sa, tên thật là Trần Bích Lan, đã sang trước đó hai năm. Qua một người quen trong gia đình, họ gặp nhau, rồi dần dần thân thiết. Ban đầu chỉ là những cuộc gặp gỡ của tuổi trẻ nơi đất khách, nhưng chẳng bao lâu sau, từ phía chàng trai ấy, tình cảm đã lớn dần thành một điều rất rõ ràng.

Mùa hè năm 1953, sau khi vừa đỗ tú tài, Nguyên Sa quyết định tỏ tình với Thúy Nga. Điều đặc biệt là ông không nói bằng những lời thông thường, mà bằng một bài thơ tình. Theo lời bà Thúy Nga kể lại, đó gần như là bài thơ đầu tiên trong cuộc đời ông. Riêng bài thơ ấy, bà giữ lại cho riêng mình, không công bố, như thể muốn giữ nguyên vẹn cho mình khoảnh khắc đầu tiên khi một chàng trai trẻ dùng thơ để bước vào trái tim mình.

Nhưng cũng ngay trong năm ấy, một biến cố lớn ập đến. Thân sinh của Nguyên Sa qua đời ở Hà Nội. Ông buộc phải ngưng việc học, trở về nước để gánh vác gia đình. Trong lúc tình yêu vừa chớm nở, chia ly đã đến rất nhanh. Ông muốn người yêu về cùng, nhưng Thúy Nga khi ấy vẫn còn ước mơ học hành dang dở, vẫn muốn ở lại Pháp để đi tiếp con đường của mình. Thế là họ phải tạm xa nhau.

Chính từ cuộc chia tay ấy, Nguyên Sa đã viết nên những câu thơ đầy nhớ thương sau này trở thành rất nổi tiếng:

Paris có gì lạ không em

Mai anh về em có còn ngoan…

Những câu thơ ấy về sau được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thành ca khúc Paris có gì lạ không em, trở thành một trong những bài hát quen thuộc nhất của nhạc Việt. Nhưng phía sau ca khúc nổi tiếng ấy, thực ra lại là nỗi bịn rịn rất thật của một chàng trai phải rời xa người mình yêu.

Trong số những bài thơ Nguyên Sa viết cho Thúy Nga, có lẽ đặc biệt nhất là bài thơ chỉ mang đúng một chữ làm nhan đề: Nga. Đó không chỉ là một bài thơ tình, mà còn là bài thơ báo hỷ in trên thiệp cưới của hai người vào ngày 17/12/1955 tại Paris. Đọc lại những câu thơ ấy, người ta vẫn thấy rõ một Nguyên Sa vừa hóm hỉnh, vừa say đắm, vừa trẻ trung mà cũng rất quyết liệt trong tình yêu:

Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau…

Đó là thứ tình yêu không màu mè, không kịch tính kiểu tiểu thuyết, nhưng lại có một sức bền rất hiếm. Họ cưới nhau trong cảnh sinh viên nghèo, không nhẫn cưới, không xe hoa, không tiệc cưới rình rang. Chỉ là ký giấy hôn thú xong rồi cùng bạn bè ra quán cà phê uống nước, ăn bánh, bạn bè góp tiền trả giúp cho cô dâu chú rể. Một đám cưới giản dị đến mức gần như không có gì để khoe, nhưng lại mở đầu cho một cuộc hôn nhân kéo dài hơn bốn mươi năm, thủy chung cho đến cuối đời.

Sau đó, hai người cùng về Việt Nam. Từ Paris trở về Sài Gòn năm 1956, họ bước vào một giai đoạn mới. Cả hai cùng đi dạy, cùng làm giáo sư, rồi cùng mở trường Văn Học và Văn Khôi. Nhiều thế hệ học sinh Sài Gòn năm xưa vẫn còn nhớ hình ảnh đôi vợ chồng giáo sư Trần Bích Lan – Trịnh Thúy Nga vừa trí thức, vừa gần gũi, cùng nhau dìu dắt học trò trong một thời rất đẹp của đời sống đô thị miền Nam.

Rồi thời cuộc lại đổi thay. Năm 1975, họ rời Sài Gòn, quay lại Paris, sau đó sang Mỹ năm 1978. Bao nhiêu dâu bể của một thời đại, bao nhiêu đổi thay của lịch sử, họ vẫn đi cùng nhau. Có lẽ điều làm người ta cảm động nhất ở mối tình này không phải là nó bắt đầu bằng thơ, mà là nó đủ bền để đi qua gần nửa thế kỷ, qua chiến tranh, qua ly hương, qua bệnh tật, qua mọi thăng trầm mà vẫn không rời nhau.

Những năm cuối đời, khi bệnh tật đã ở rất gần, Nguyên Sa vẫn viết những câu thơ đầy xúc động như một lời dặn dò, một lời thủ thỉ với người vợ đã đi cùng mình suốt đời. Trong những câu thơ ấy, ông nhắc đến Sài Gòn, nước Mỹ, miền Nam nước Pháp, những nơi hai người từng sống qua, từng bước qua. Nhưng sau tất cả, điều ông nhớ nhất vẫn là những mảnh đất đầu đời, nơi có tuổi trẻ, có tình yêu đầu tiên, có những ngày cùng nhau đi học. Điều ấy cho thấy, có những mối tình càng đi xa, càng đi lâu, rốt cuộc lại càng quay về nơi khởi đầu.

Ngày 18/4/1998, thi sĩ Nguyên Sa rời cõi tạm. Ông ra đi bên người vợ mang tên Nga, người đã ở cạnh ông từ thuở còn rất trẻ cho đến phút cuối cùng. Sau khi ông mất, chính bà là người chọn ngôi mộ cho ông, một nơi gần hồ nước, dưới bóng cây mát. Trên bia mộ, bài thơ Sợi tóc của ông được khắc lại như một lời gửi gắm cho ngàn kiếp sau.

Nhưng có lẽ điều đẹp nhất không nằm ở bia mộ, mà nằm ở người còn ở lại. Sau khi Nguyên Sa rời đi, bà Thúy Nga vẫn lặng lẽ ra thăm mộ ông, chăm hoa, cắt cỏ, chuyện trò với ông như thể sự chia xa ấy chưa bao giờ cắt đứt được mối gắn bó giữa hai người. Bà cũng chính là người gìn giữ, thu gom, in lại những tác phẩm thơ ca, truyện, sách và hồi ký của ông, như một cách tiếp tục nâng niu phần đời tinh thần mà chồng mình để lại.

Nhìn lại cuộc đời Nguyên Sa, người ta thấy thơ ông đẹp, tình ông cũng đẹp. Nhưng có lẽ điều khiến người ta nhớ lâu nhất không chỉ là những câu thơ nổi tiếng, mà là sự thật rất hiếm hoi này: giữa một đời dài, ông chỉ có một mối tình duy nhất, và mối tình ấy đủ lớn để nuôi sống thơ ông, đủ bền để đi cùng ông đến tận cuối đời.

Có những thi sĩ nổi tiếng vì đa tình. Còn Nguyên Sa, có lẽ lại khiến người ta cảm động hơn bởi sự thủy chung.

Và biết đâu, chính vì chỉ yêu một người suốt đời, nên thơ ông mới đẹp đến vậy.

Sưu tầm